Phạm Hồng Sơn - Đá Núi - Mãi Hồng - Nồng Say | Ngày 10/9 và những kỷ niệm không thể nào quên! (Phần 2)
51632
single,single-post,postid-51632,single-format-standard,eltd-core-1.0.3,ajax_fade,page_not_loaded,,borderland-ver-1.8.1,vertical_menu_enabled, vertical_menu_left, vertical_menu_width_290,smooth_scroll,paspartu_enabled,paspartu_on_top_fixed,paspartu_on_bottom_fixed,vertical_menu_inside_paspartu,transparent_content,wpb-js-composer js-comp-ver-4.11.2.1,vc_responsive
11057856_1044890465521139_7869870848791516547_o

Ngày 10/9 và những kỷ niệm không thể nào quên! (Phần 2)

(Ảnh ngầm Ca Tang khi bình thường không có lũ)
*********

Ngày 10/9 và những kỷ niệm không thể nào quên! (Phần 2)
(Viết ngày 10/9/2015)

Kỳ 1.  Vượt ngầm Ca Tang.
***

Chiều 10/9/2001 khoảng 5h xe chúng tôi vượt ngầm Ca Tang – Quảng Bình. Bác Đồng Sỹ Nguyên quyết định vượt ngầm trong khi nước lũ đang đổ về cuồn cuộn. Xe Bác đi trước, xe tôi theo sau cách một đoạn chừng dăm chục mét. Nhìn chiếc Land Cruise chở Bác Nguyên hùng dũng lao về phía trước có lúc như chìm hẳn trong dòng nước rồi lại chồm lên và vượt qua được quãng đường ngầm khá dài để sang được bờ bên kia, tôi thốt lên: “Bác Nguyên đúng là người nhà Trời phái xuống để giúp nước giúp dân ta nên xe Bác ấy không bị làm sao cả”. Xe tôi do cậu Trung cầm lái đi được đến giữa ngầm thì khựng lại, chết máy! Nước lũ cứ thế dâng cao ngập cả nóc capo xe, anh em chúng tôi lóp ngóp chui ra khỏi xe lội xuống ngầm tìm cách lên bờ. Tôi và cậu Trung lái xe ở lại bên cạnh chiếc Land Cruise đang ngập dần trong nước lũ và lên bờ sau cùng.
Người dân ở đó kể rằng: Những trường hợp người bị kẹt lũ ở giữa dòng như thế này thì mấy ngày sau phải về tận Đồng Hới cách đó mấy chục cây số để…vớt xác!

Kỳ 2.
***
Sao lại gọi là Ca Tang nhỉ? Cái tên gọi gợi nên một điều gì đó vừa mơ hồ, vừa xa xôi lại vừa có vẻ u buồn sao đó. Tôi nghe có giai thoại thế này…
Vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước, thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, có một đơn vị bộ đội hành quân qua đây, gặp dòng nước mát giữa trưa hè oi ả, cả đơn vị đã dừng lại để rửa mặt mũi tay chân cho mát mẻ. Bỗng dưng nước lũ ở đâu đổ về ào ào đã cuốn phăng cả đơn vị bộ đội về phía hạ lưu. Từ đó người ta gọi cái ngầm đó là ngầm Khe Tang.
Lâu ngày để tránh bớt cái vẻ tang thương của tên gọi nên mới gọi chệch đi là Ca Tang.
Dòng suối này bắt nguồn từ Lào chảy về Biển Đông. Trong khi bên Việt Nam đang là mùa khô thì bên Lào lại là mùa mưa, do đó nước lũ đổ về trong mùa khô là vì vậy và không ai có thể ngờ nó bất ngờ và tàn khốc đến thế.
Bởi vậy mới nói khi có lũ tràn về thì không kịp chạy thoát mà sẽ bị lũ cuốn trôi về Đồng Hới là vì thế!

(Còn tiếp)

&&&&&

Ảnh Đỗ Trường Sơn:  Chiếc xe Land Cruiser 31A 0661 bị ngập tại ngầm Ca Tang chiều 10/9/2001

########

Đỗ Trường Sơn, người lái xe đưa Bác Đồng Sỹ Nguyên vượt ngầm Ca Tang hôm 10/9/2001 viết:

 

Bước chân không mỏi
Kính tặng “Thủ trưởng”Đồng Sĩ Nguyên
*******

Không biết ngẫu nhiên hay nhân duyên mà tôi được vinh dự làm lái xe “riêng” của bác Đồng Sĩ Nguyên; nguyên ủy viên Bộ chính trị, nguyên Phó chủ tịch HĐBT(nay là phó Thủ tướng). Bác Nguyên là một trong hai người duy nhất của Quân đội ta được nhà nước đặc cách phong tặng quân hàm từ Đại tá lên Trung tướng do những thành tích to lớn có ý nghĩa chiến lược trên cương vị Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, góp phần vào chiến thắng mùa xuân năm1975.
Trước đây tôi cũng như nhiều bạn trẻ khác biết về bác Nguyên qua những câu chuyện, giai thoại của người lớn tuổi kể lại; đặc biệt gần đây được đọc cuốn hồi ký “Trọn một con đường”, bác Nguyên dành tặng tôi năm 2012, do nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành; cùng với những năm tháng tôi phục vụ bác Nguyên… Điều đó đã cho tôi ấn tượng và cảm xúc mỗi khi nhớ về vị “Thủ trưởng” cũ.
Về công tác tại VPCP năm 1993, tôi đã có một ao ước là được lái xe cho bác Nguyên…năm 1995 may mắn ước mơ của tôi đã trở thành sự thật, hôm đầu tiên đến nhận nhiệm vụ, là người trầm tĩnh ít nói bác Nguyên chỉ nhắc nhở:
Công việc đi nhiều, vất vả, chú giữ gìn sức khỏe, bảo quản xe cộ tốt và nhớ công tác bảo mật… Tôi đã phục vụ Bác đến 2006, đây là quãng thời gian ấn tượng nhất trong cuộc đời lái xe của tôi!
Với những ai đã từng đến thăm bác Đồng Sĩ Nguyên tại nhà riêng ở số 54 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hai Bà Trưng, Hà Nội, hẳn mọi người sẽ nhận ra tất cả đồ đạc trong nhà được bài chí đơn giản, khiêm nhường so với danh tiếng và chức vụ mà bác Nguyên đã trải qua. Trong phòng khách kê hai bàn thờ một dành thờ gia tiên, một thờ con trai của Bác, anh Nguyễn Tiến Quân sĩ quan pháo binh hy sinh năm 1979; trên tường treo trang trọng hai bức tranh “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” và bức chụp cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại chiến dịch Đường 9 Nam Lào, cùng bộ bàn ghế Xa lông từ những thập niên 80 của thế kỷ trước.

d2
Là người sống tình cảm bác Đồng Sĩ Nguyên không bao giờ quát mắng con cháu hay nặng lời với đồng nghiệp cấp dưới và những người phục vụ; ngày Tết bác Nguyên thường đi thăm hết lượt con cháu, họ hàng, đồng đội cũ và cũng không quên đến từng nhà anh em phục vụ của Bác để thăm hỏi động viên. Mỗi lần đi công tác về đến Hà Nội Bác thường hỏi anh Du bác sĩ đi về nhà bằng phương tiện gì và không quên nhắc tôi đưa chú Trần Kỳ Vân về trước; vì chú Vân cũng đã có tuổi, nhà ở xa. Chú Vân khi trước là thư ký của Bác, nay đã nghỉ hưu, nhưng Bác vẫn tin tưởng nhờ chú ấy đi theo giúp việc. Bác Nguyên luôn dành tình cảm đặc biệt đối với những đồng đội đã hy sinh; cứ mỗi lần đi công tác ngang qua nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Bác rẽ vào thắp hương và đứng lặng trước các nấm mồ… tôi chắc chắn ký ức về một thời đang hiện về trong Bác và hình như sau này… “Thủ trưởng” của mình muốn trở về đây với họ! Bác Nguyên kể cho chúng tôi: “Trước khi kết thúc chiến tranh, tôi đã cất công đi tìm một mảnh đất thật đẹp, có hồ nước, có đồi cây bát ngát để làm nơi yên nghỉ cho những đồng đội của mình; nó phải như một công viên sao cho người già, trẻ em, các đôi nam nữ có thể vào đây dạo chơi…và nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn ngày nay được hình thành như thế đó. Ngày 19/5/2004 lần đầu tiên đài truyền hình Việt Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị tổ chức chương trình “Đêm Trường Sơn huyền thoại” tại nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Binh đoàn Trường Sơn (19/5/1959 – 19/5/2004). Chương trình có mời bác Đồng Sĩ Nguyên tham dự với tư cách nguyên là Tư lệnh Đoàn 559. Hôm đó trời mưa như trút nước, đến đầu giờ chiều mưa vẫn chưa ngớt; chị Diễm Quỳnh nhà báo MC của chương trình và ban tổ chức đầy lo lắng nói với bác Nguyên: Thưa Bác mưa như thế này chúng cháu sợ tối không thể tổ chức được..? bác Nguyên quay sang chị Diễm Quỳnh và mọi người đầy tự tin: các cô chú cứ yên tâm tối sẽ tạnh! Thật kỳ lạ tối hôm đó trời quang mây tạnh, hàng ngàn ngọn nến lung linh được thắp lên giữa Trường Sơn hùng vĩ và chương trình diễn ra thành công tuyệt vời…tôi đã nghĩ phải chăng giữa “Thủ trưởng” của mình và những liệt sĩ nơi đây có một mối liên hệ nào đó?
Tôi thường được bác Nguyên giao đi lĩnh lương, nộp Đảng phí, lĩnh văn phòng phẩm, mang một số văn bản giấy tờ của Bác lên cơ quan cho văn thư đánh máy vì thời gian đó Bác thường làm việc ở nhà. Nhớ có lần Bác bảo tôi : “chú mang bài viết này lên cơ quan đánh máy, chờ lấy luôn để mai tôi dùng”. Do chữ của Bác khó xem nên chị Hương văn thư đánh máy có nhờ tôi đọc hộ cho nhanh, đây là bài viết về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ông (1/3/1906 – 1/3/2006)… trong đó có một câu “ …cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một trong số ít những nhà lãnh đạo sống cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư…”. Đọc đi đọc lại câu này tôi bảo với chị Hương: chị cứ bỏ cho em chữ “ít” đi, về nhà em sẽ báo cáo lại với bác Nguyên. Đánh máy xong tôi cầm về đưa cho bác Nguyên:
Cháu có mạo muội bỏ đi một từ, Bác kiểm tra xem có được không? Tôi đã chỉ cho bác Nguyên xem câu mà tôi đã bỏ đi một từ. Trong lòng tôi cũng hơi lo lắng sợ bị mắng. Sau khi chăm chú đọc bác Nguyên quay sang tôi: “từ giờ có điều gì chú cứ suy nghĩ thật kỹ rồi mạnh dạn nói với tôi”. Tôi thở phào, một cảm xúc dâng trào trong tôi. Do công việc phải đi nhiều, đi xa và dài ngày; sau khi lên lịch trình Bác thường hỏi mọi người có ý kiến gì không? Thời gian, lộ trình như thế chú Sơn thấy thế nào ?…Bác Nguyên luôn tôn trọng ý kiến của mọi người.
Là người không nặng hình thức, dọc đường nếu không làm việc với địa phương, mấy “Thầy trò” thường dừng ở dọc đường ăn cơm bụi. Khi theo dõi Chương trình 327, nhiều khi đi kiểm tra công tác trồng rừng phòng hộ, Bác Nguyên thường hẹn gặp các đơn vị ở hiện trường làm việc luôn. Sau khi thống nhất chương trình làm việc, Bác leo lên từng ngọn đồi kiểm tra việc trồng rừng đến đâu, anh em lâm nghiệp chỉ biết lắc đầu thán phục. Bác vào từng hộ dân, hỏi cặn kẽ việc khoán trồng rừng có thuận lợi, khó khăn gì không? Tiền nong địa phương thanh toán thế nào? với Bác không có khái niệm của hai từ “quan liêu”. Nếu không phải họp hành thì chỉ khi nào mặt trời xuống bóng thì Bác mới về nghỉ; anh Du bác sĩ nói vui với anh em, gọi Bác Nguyên là “ông mặt trời chưa lặn”
Bác Nguyên có thói quen việc của ngày hôm nay không để ngày hôm sau, khi đã quyết việc gì là làm ngay, làm bằng được; có những việc rất nhỏ như đi mua gói tăm, cái khăn hay những vật dụng cá nhân Bác thường tự đi mua theo ý của mình; mặc dù tôi có nói “những việc như thế Bác để cháu làm cũng được”

206
Ngày 24/9/1997 Thủ tướng Chính Phủ Võ Văn Kiệt ký Quyết định số 789/QĐ-TTg về việc quy hoạch tổng thể Xa lộ Bắc Nam và có giao cho bác Nguyên giúp Thủ tướng chỉ đạo công việc với tư cách là Đặc phái viên của Chính phủ. Bác Nguyên lại hào hứng trở lại Trường Sơn, tìm hướng tuyến cho con đường, đó là ước mơ của bác Nguyên cũng như của nhiều người và sau này Bộ Chính trị đã quyết định đổi tên thành Đường Hồ Chí Minh; những chuyến đi khảo sát đó thường kéo dài nửa tháng, từ Thanh Hóa , Nghệ An vào đến tận Bình Phước, theo đường 15,20…qua những địa danh lịch sử Km 0, cua chữ A, ngầm Tà Lê, đèo Phu La Nhíc… Ngã ba Đông Dương… Trên đường đi công tác, bác Nguyên thường kể cho chúng tôi nghe về một thời ngang dọc Trường Sơn: “Đầu năm 1967 Tôi vào Trường Sơn tiếp quản công việc trên cương vị là Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn… từ trạm tiếp đón của Bộ Tư lệnh, tôi phải vượt qua 50 cây số mặt đường giải rong – đanh ( những cây gỗ tròn lát ngang đường để chống lầy) nói là đường lát gỗ khá bằng phẳng nhưng xe vẫn phải bò đi như rùa, xe và người bị dằn xuống mặt đường bầm dập…ê ẩm hết cả người. sau đó phải đi bộ khoảng ba tiếng đồng hồ mới tới sở chỉ huy, tính ra phải hết cả ngày trời mới đến được sở chỉ huy. Đó là điều tôi suy nghĩ vô cùng, tại sao sở chỉ huy lại đóng xa đường? Tại sao là mùa khô không tháo rong-đanh để xe chạy nhanh hơn? Sau khi ổn định tổ chức, họp bàn với anh em tôi quyết định chuyển sở chỉ huy ra gần đường 20, chỉ mất khoảng 30 phút đi bộ…từ đó tuyến chi viện Trường Sơn bước sang một giai đoạn mới chuyển từ “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” sang chủ động “mở đường mà đi, thấy địch là đánh”. Làm thay đổi cả về chất và lượng công tác chi viện cho chiến trường Miền Nam”. Nhiều đồng nghiệp của bác Nguyên đã nói rằng: Ông Đồng Sĩ Nguyên là người của những quyết sách táo bạo, vào những thời điểm quyết định.
Bác Nguyên kể: “khi làm Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng, Bộ giao thông vận tải, mỗi lần đi công tác qua cầu Long Biên Tôi hết sức ngán ngẩm, Tôi gọi đó là cây cầu “dài nhất thế giới”; vì mất qúa nhiều thời gian để qua được; ý tưởng làm ngay một cây cầu khác bắc qua Sông Hồng được hình thành trong Tôi… cầu Chương Dương được khởi công xây dựng ngày 10/10/1983 và được hoàn thành ngày 30/06/1985. Đây là cây cầu có khẩu độ lớn lần đầu tiên được thiết kế và thi công tại Việt Nam, không có sự trợ giúp kỹ thuật của kỹ sư nước ngoài, là cây cầu có tiến độ thi công kỷ lục cho đến nay, được tổ chức ba ca làm liên tục, búa máy đập suốt ngày đêm… khi đó đồng chí Lê Đức Thọ Trưởng Ban Tổ Chức Trung ương Đảng đã gọi điện đến nhà tôi và mắng vui: Anh đóng búa máy suốt đêm thế không sợ dân Hà nội mất ngủ à?”
Ngày 3/2/2000 Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ký quyết định số 18/QĐ-TTg khởi công xây dựng Đường Hồ Chí Minh; đó cũng là thời gian vất vả nhất của “Thầy trò” chúng tôi, nhất là với bác Nguyên một người đã qua cái tuổi “xưa nay hiếm”.
Là người rất “tâm huyết” với con đường, tháng nào Bác cũng vào tuyến kiểm tra đôn đốc đúng như tác phong của một vị Tư lệnh. Những chuyến đi kéo dài nhiều ngày, mỗi ngày ngồi mấy trăm cây số từ sáng sớm đến tối mịt, cơm nước thì thất thường, tiện chỗ nào dừng xe dọc đường ăn xôi hoặc bánh mỳ mang theo, hoặc vào lán trại của anh em bộ đội nghỉ qua đêm. Đường khi đó cực kỳ xấu, không phải ổ voi, ổ gà mà là ổ “Khủng long”. Có những đoạn đường chỉ vài cây số phải đi hết nửa buổi; đường đào lên mưa rừng ập xuống, xe thi công chạy đi chạy lại, biến con đường trở thành một “dòng sông bùn” đỏ quạch, tương phản với màu xanh của núi rừng, xe chỉ chạy được số 1, số 2, xe nhích từng tý một, xe quăng bên trái lại quăng bên phải; đi qua hố, rãnh biết là sóc những vẫn phải phi nhanh để lấy đà vượt qua, mọi người ngồi trên xe nẩy tưng có khi đầu trạm cả vào nóc xe; mỗi lần dừng mấy anh em đều kêu ù hết cả tai, còn tôi thì như có ruồi bay trong mắt; nhưng tuyệt nhiên không thấy “Tư lệnh” có phản ứng gì về sự mệt mỏi.
Phải chăng sự khốc liệt của chiến tranh đã tôi luyện bác Nguyên trở thành một con người “phi thường”, một người mà như bác Nguyên đã nói: “càng khó khăn, tôi càng muốn vượt qua”. Tôi cảm nhận đối với bác Nguyên, những khó khăn bây giờ quá nhỏ so với thời kỳ chiến tranh mà Bác đã trải qua và trong mọi hoàn cảnh dù có nguy hiểm thế nào, xe của “Thầy trò tôi” luôn dẫn đầu. Có một kỷ niệm mà tôi nhớ mãi:
Ngày 10/9/2001 đoàn công tác có 2 xe: trên xe tôi lái có bác Nguyên, chú Trần Kỳ Vân thư ký, anh Nguyễn Ngọc Du bác sĩ, anh Nguyên Văn Ly sĩ quan cảnh vệ; xe anh Trung lái có anh Phạm Hồng Sơn Phó tổng ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh, anh Nguyễn Minh Hải trưởng phòng dự án 1 của Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh, anh Lại Xuân Cương chuyên viên Vụ Kinh tế ngành Văn phòng Chính phủ và anh Nguyễn Ngọc Quỳnh nhà thơ, phóng viên báo GTVT; đoàn có buổi làm việc với đơn vị thi công thuộc Tổng công ty xây dựng đường thủy thuộc Bộ GTVT…kết thúc buổi làm việc mọi người chia tay nhau, đang chuẩn bị lên xe đi tiếp, anh Phan Thanh Danh giám đốc đơn vị thi công gọi với theo:
Thưa Bác anh em dưới công trường báo nước lũ đang về, hay là Bác nghỉ lại đây mai đi tiếp, bây giờ cũng 5h chiều rồi. Bác Nguyên dõng dạc: không được các đơn vị họ đã chuẩn bị, thu xếp lên lịch đón đoàn làm việc, mình chậm lại sẽ nhỡ hết việc của anh em, đi vòng ra quốc lộ 1 sẽ mất thêm thời gian và lãng phí xăng dầu; ra ngầm tôi kiểm tra trực tiếp rồi quyết định sau!
Ra đến ngầm mọi người xuống xe, nhìn dòng nước chảy siết bàn ra tán vào, tâm lý muốn quay lại; lúc này bác Nguyên quan sát ký mặt nước, bằng kinh nhiệm dạn dày và từng trải nói:
Các chú cứ đi theo tôi! Rồi bác Nguyên nhìn thẳng vào mắt tôi với dọng trầm ấm đầy quả quyết “chú Sơn mình vượt ngầm nhé”!
Tôi khẽ vâng, mọi người lên xe.

a
Bầu trời thâm tím, giông gió mỗi lúc một mạnh hơn, nước trên nguồn đổ về dâng kín cả đường đi. Tôi khẩn trương nổ máy, cài cầu cài số 1, tim đập mạnh, tôi hít một hơi thật sâu khẽ nhả côn, chiếc Land Cruiser từ từ tiến xuống dòng nước đang chảy cuồn cuộn. Câu thơ của Tố Hữu chợt hiện lên trong đầu tôi: “Trường Sơn Đông nắng Tây mưa, ai chưa tới đó như chưa hiểu mình”; qua dòng nước mênh mông, nhìn thẳng sang bờ Nam tôi vững tin hình dung ra con đường thẳng tiến… Nước đã ngập bánh xe, tôi ghì chặt tay lái, đỡ côn đè ga “sát ván”; những tảng đá dưới ngầm như muốn ghì chiếc xe lại; chồm lên, chúi xuống, chiếc xe lắc lư, mò mẫm tiến ra giữa dòng; nước vẫn đổ về chùm lên cả nóc ca pô. Trên xe mọi người ngồi im lặng, chỉ có tiếng gào rú của máy xe, tiếng nước dội vào thành xe; bác Nguyên quay sang tôi: “chú cứ bình tĩnh xử lý”. Tôi vẫn ghì chặt tay lái, giữ chắc chân ga, bây giờ chỉ ngớt ga là xe chết máy rất nguy hiểm…chiếc xe đã qua được chỗ sâu nhất, đang tiến lại gần bờ, tôi cũng bớt căng thẳng. Trên bờ hai đồng chí tư vấn giám sát người Cu Ba và một số đồng chí của đơn vị thi công đang hồi hộp đứng chờ. Khi xe của tôi dũng mãnh chồm lên bờ, mọi người vỗ tay hoan hô. Tôi tìm chỗ đỗ xe an toàn, cùng mọi người xuống xe. Xe của anh “Sơn Phó tổng” ra đến giữa dòng thì chẳng may bị chết máy, nước lũ đã ngập lên đến cửa kính; bác Nguyên vội lấy loa ở bộ còi ủ của xe tôi nói vọng xuống: các chú khẩn trương xuống hết kính xe, tránh bị nước cuốn trôi xe. Những người thợ cầu dũng cảm lao xuống dòng nước cuồn cuộn khẩn trương kéo dây cáp từ trên bờ xuống móc vào xe, dìu từng người lên bờ an toàn. Một chiếc Kamaz được điều đến để kéo chiếc Land cruiser lên nhưng do nước chảy mạnh lại bị mắc vào đá ngầm, đứt cả cáp không thể kéo được, nước đã tràn vào trong xe, từ trên bờ nhìn xuống chỉ thấy mỗi nóc xe nổi lên giữa dòng nước đục ngầu, chính thức lũ đã về; thấy vậy Bác Nguyên bảo đơn vị thi công điều một xe xúc đến chặn ngang dòng nước và dùng gầu xúc rê chiếc xe vào bờ. Đưa được chiếc xe lên bờ thì trời cũng đã tối mịt, bác Nguyên bảo anh “Sơn Phó tổng” để xe đó lại mai thay dầu máy rồi đuổi theo đoàn, còn bây giờ các chú đi nhờ xe của đơn vị thi công. Đoàn tiếp tục lên đường, 8 giờ tối chúng tôi đến Quỳ Đạt, Tuyên Hóa, Quảng Bình; nghỉ ngơi cơm nước xong, bác Nguyên hỏi anh Sơn Phó tổng: hành lý thế nào? Các chú có sợ không? Còn tôi thấy bình thường!
Anh Sơn Phó tổng:
Thưa Bác đây là kỷ niệm không quên; quần áo, máy tính của cháu bị trôi hết rồi, thế nào mà còn lại cây đàn Guitar, có anh Quỳnh phóng viên đang đau khớp do bị ngâm nước lạnh.
Bác Nguyên nhìn anh Sơn Phó tổng và chậm rãi: bây giờ chú hát lên một bài cho quên những đi vất vả, còn chú Quỳnh tý nữa tôi sẽ đưa thuốc của tôi cho chú.
Anh Sơn Phó tổng bảo tôi đệm đàn…và tiếng hát được cất lên “…người bạn CuBa đến với Trường Sơn, người bạn CuBa đến với đường Hồ Chí Minh. Việt Nam – CuBa, Phiden – Hồ Chí Minh…”; đây là một sáng tác của anh Sơn Phó tổng. Sự xúc động trào dâng trong ánh mắt các bạn CuBa và mọi người khi tên hai vị lãnh tụ kính yêu của hai dân tộc được ngân vang trong đêm vắng. Cảm kích trước hình ảnh xông pha, lạc quan của một vị “Tư lệnh” già anh Nguyễn Ngọc Quỳnh nhà thơ, phóng viên báo Giao thông vận tải, lần đầu tiên “vào Trường Sơn” đã làm bốn câu thơ tặng bác Nguyên:
“Suốt một thời ngang dọc Trường Sơn,
Nay trở lại như về với quê mình vậy.
Qua từng địa danh…hiện lên năm tháng ấy,
Bên cây Chò, Ông vẫn thẳng như cây!”
Tôi có thể tự hào và kiêu hãnh rằng: mình đã được bước theo những bước chân không mỏi mệt của một vị Tướng đi khắp mọi miền của Tổ quốc! Bản thân tôi và nhiều người đã không thể hiểu nổi, điều gì đã cho bác Nguyên sức mạnh và nguồn năng lượng lớn đến vậy để lại vượt núi trèo đèo , băng rừng lội suối tìm hướng tuyến…biến ước mơ của Bác và của nhiều người là mở một con đường mang tên Hồ Chí Minh từ Pắc Pó đến Cà Mau.
Bác Nguyên từng nói với chúng tôi:
“Tôi sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình, cuộc đời binh nghiệp lại gắn với miền Trung; người dân nơi đây đã bao đời đói khổ vì thiên nhiên, khí hậu khắc nhiệt, chưa nắng đã khô, chưa mưa đã cạn. Trong kháng chiến người dân nơi đây kiên cường bất khuất, một lòng theo cách mạng, sẵn sàng hy sinh tính mạng tài sản nhà cửa ruộng vườn, để làm đường cho Bộ đội qua phục vụ chiến trường. Nay chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng các chú thấy đấy, họ vẫn quá đói khổ; thành quả của cách mạng họ chưa được hưởng là bao! Nay mở con đường này, ngoài ý nghĩa chiến lược về an ninh, quốc phòng còn là mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo…Từ nay một nải chuối, quả cam hay con gà của người dân đem bán cũng có giá trị hơn, một cô gái người dân tộc thiểu số cũng có thể yêu và kết hôn với một chàng trai dưới xuôi…” Tôi biết đó là những tâm tư từ đáy lòng của bác Nguyên!
Mỗi lần đi công tác dọc theo tuyến đường, qua các điểm thi công, tôi lại thấy những ngôi nhà, hàng quán mọc lên sầm uất…tôi mường tượng đến một tương lai sáng lạng.
Trước khi viết bài này, tôi có đến gặp Bác Nguyên xin ý kiến: thưa Bác cháu muốn viết một bài về Bác nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Văn phòng Chính phủ 28/8/1945 – 28/8/2015, Bác có gợi ý gì cho cháu?
Bác Nguyên ân cần bảo tôi: Chú có tâm thì chú sẽ viết được!
Tiếc rằng tôi không phải là một nhà văn để miêu ta hay hơn về một con người, một tấm gương đã, đang và sẽ cống hiến trọn đời vì sự nghiệp cách mạng của Dân tộc. Người ta vẫn thường nói: “nhân bất thập toàn”. Đơn giản tôi nghĩ người có tài là người làm được những điều đặc biệt hơn người, người có đức là người cống hiến được nhiều cho cộng đồng, cao hơn nữa là biết sống, chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại, vì sự phồn vinh của Tổ Quốc! Tôi nghĩ “Thủ trưởng” của tôi là người “có tài có đức”; một tấm gương sáng để thế hệ hậu sinh như chúng tôi học tập và noi theo! Thật sự gần bác Nguyên tôi cảm thấy mình trưởng thành hơn, nhận thức sâu sắc hơn về giá trị và ý nghĩa của cuộc sống. Tôi đã học ở bác Nguyên rất nhiều điều bổ ích…
Bằng tình cảm chân thành và sự kính trọng của người lái xe đối với “Thủ trưởng” của mình, một người có công với nước, một thương binh, cha của một liệt sĩ; tôi hy vọng bài viết này chỉ là một nét bút tô thắm thêm vào bức chân dung của một vị Tướng, một Chính khách.
Xin được lấy lời nhận xét của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về “Thủ trưởng” của tôi thay cho lời kết:
“Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên là một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước có đức độ và tài năng, một người học trò ưu tú của Bác Hồ. Toàn bộ cuộc đời của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và của Quân đội… một trong những vị tướng tiêu biểu của Quân đội ta. Đối với tôi, tướng Đồng Sĩ Nguyên là một trong những người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết gần gũi suốt cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc mà tôi rất tin và quý mến!”./.

Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2015

*******

14207816_502551056536429_3131494169892883625_o

Kỳ 3
(Viết ngày 10/9/2016)

*******

Đã 15 năm trôi qua nhưng mỗi lần nhớ đến Ca Tang tôi lại thấy mình đang ngâm mình trong dòng nước lũ ngập ngang ngực tìm cách thoát thân khỏi bàn tay của “Thần Chết”! Đối diện với cái chết tôi vẫn lạc quan nói với cậu Trung lái xe: số Tử vi nói tớ sống đến 83 tuổi nên chưa chết được đâu, cậu cứ theo tớ là sống! Vào những thời khắc cận kề cái chết, mà lần này đã là lần thứ 2 cũng trùng ngày 10/9, tôi thấy mình bình tĩnh lạ thường, có lẽ là nhờ ở bản tính luôn lạc quan trong mọi hoàn cảnh của mình chăng? Tôi nhìn quanh tìm xem có vật gì để mình bám vào được chống chọi với thác lũ, chỉ thấy lơ thơ mấy ngọn cây nhỏ mọc lên từ cồn cát giữa dòng, lúc ấy cũng đã là điểm tựa để nhắm đến nếu bị lũ cuốn đi. Bất chợt tôi nhớ đến D. sực nhớ đến mấy mảnh vải áo và khăn quàng cô ấy gửi về cho mẹ tôi ( vì lần nào đi công tác vào đường Hồ Chí Minh tôi đều ghé qua thăm ba mẹ tôi), tất cả đã bị lũ cuốn trôi mất rồi. Những vật dụng, hành lý tư trang, sách vở trang thiết bị cho công việc như Laptop, máy ảnh…thứ thì bị ngập ướt, thứ thì bị lũ cuốn trôi đi. Tiếc nhất là mấy trăm cuốn sách nhạc Hát mãi với Trường Sơn do Nhà xuất bản Thanh niên phát hành đã bị nước cuốn trôi đi mất, trong cuốn sách ấy có mấy bài hát do tôi sáng tác như Con đường của Bác đường Hồ Chí Minh, Người bạn Cu Ba trên đường Hồ Chí Minh, Hát mãi với Trường Sơn…tôi mang theo xe để tặng anh em công nhân đang lao động quên mình trên công trường. Vậy là công cốc, tiếc ơi là tiếc!

13909038_1343861708974773_4129863399772202291_o
Trở lại với giây phút ngâm mình trong dòng nước lũ cứ mỗi ngày một dâng cao, phía bờ bên kia vọng lại tiếng loa với giọng bác Đồng Sỹ Nguyên: các chú tìm cách lên bờ ngay đi, không được chần chừ nữa, rất nguy hiểm.
Trước đó Nguyễn Ngọc Quỳnh, phóng viên báo Giao thông vận tải và Lại Xuân Cương, Chuyên viên Văn phòng Chính phủ đã dìu nhau lên bờ ngay khi xe vừa bị ngập; tiếp đó Nguyễn Minh Hải, Trưởng phòng QLDA1 ban QLDA đường HCM cũng đu bám dây cáp của xe tải do anh em công nhân thả xuống kéo lên. Chỉ còn tôi và cậu Trung lái xe ở lại dưới lòng sông tìm cách cứu chiếc xe Land Cruiser trị giá bạc tỷ.
Lúc đó tôi chỉ kịp nghĩ: mình còn ở đây thì anh em sẽ tìm cách cứu mình và cứu cả xe, mình lên trước thì người ta bỏ xe không cứu nữa, mất tài sản Nhà nước.
Anh em thi công cầu Ca Tang, cầu Núng gần đấy huy động xe máy và người tập trung cứu hộ chúng tôi. Xe IFA xuống sông bị ngập chết máy, điều xe bom chở beton ciment xuống cũng ngập chết máy. Cuối cùng họ điều xe xúc bánh xích xuống ngầm dùng gàu xúc đưa chúng tôi lên bờ. Tôi nói với cậu lái xe xúc: phải cứu được xe của anh lên đấy nhé. Hơn một tiếng sau anh em báo cho tôi biết đã cứu được xe lên bờ rồi. Lúc ấy tôi mới thở phào, nhẹ cả người.
(Còn tiếp)

Kỳ 4
***
Tôi được anh em công nhân đưa lên bờ phía bên này (bên xuất phát) người ướt sũng, quần áo tư trang trôi hết, thế là phải mượn quần áo bảo hộ lao động của anh em công trường thi công cầu Ca Tang (thuộc Công ty Cầu 7 Thăng Long) để thay. Chuyện này rất hay! Chả là hôm sau vào họp ở công trường đoạn trong người ta không cho tôi vào dự họp vì tưởng tôi là công nhân vào đây làm gì…!
Hành trình chuyến đi không thể bị gián đoạn, bác Đồng Sỹ Nguyên thì đang ở bờ bên kia đợi nên chúng tôi phân công cậu Trung ở lại trông xe và tìm cách đưa xe về lại cơ quan ở Hà Nội để sửa chữa, tôi và Hải thuê đò của dân sang bờ bên kia, mượn xe của công trường đi tiếp. Hành trang duy nhất còn sử dụng được là cây đàn ghi ta! Bác Nguyên trêu tôi: chú Sơn thì chỉ lo cứu cây đàn ghi ta thôi. Và cũng nhờ có cây đàn ghi ta này mà tối hôm đó ở Quì Đạt chúng tôi hát vang những bài ca về Trường Sơn về đường Hồ Chí Minh do tôi sáng tác, quên đi khó khăn hiểm nguy vừa trải qua. Khán giả duy nhất tối hôm đó nghe chúng tôi hát là…bác Đồng Sỹ Nguyên!

quynh-ca-tang
Nguyễn Ngọc Quỳnh (người đứng trong ảnh) vừa là nhà báo nhưng cũng vừa là nhà thơ nữa nên đã viết ngay trong đêm bài thơ

VƯỢT CA TANG.

Nước đổ về ngầm giấu cả đường đi
Hướng đã chọn – vượt lên phía trước
Hòn đá nào cản ta tiến bước
Xe khựng lại giữa dòng, mưa xối, lũ dâng
Không chần chừ nào đồng chí chung lưng
Nào cáp, nào xe, nào máy
Xe xích lao chặn đầu dòng chảy
Người thợ công trình vật lộn tử sinh
Chiếc lăng-cu-dơ ngỡ bị nhấn chìm
Lại rưng rưng nắm bàn tay người thợ
Người thợ sau nhiều gian khổ
Nở nụ cười hồn nhiên vô tư
Anh chỉ tiếc tập bài ca nước cuốn
Ký ức còn hát mãi với Trường Sơn.
********
Ngày hôm sau 11/9/2001 là ngày chấn động cả Thế giới với sự kiện quân khủng bố đâm sập toà tháp đôi ở nước Mỹ. Bác Đồng Sỹ Nguyên nói ngắn gọn: “Đó là hậu quả tất yếu mà nước Mỹ phải gánh chịu vì những chính sách áp bức của Mỹ với các nước khác”.

 

Kỳ 5
(Được viết sau đêm gặp mặt Kỷ niệm 15 năm Vượt Ca Tang của 9 thành viên trong đoàn).
*******
Có một chi tiết vừa cảm động vừa vui xin được kể lại thế này. Trong khi đang cứu hộ người và xe ở dưới ngầm Ca Tang, một cậu thanh niên là công nhân công trường xây dựng cầu Ca Tang, rất tích cực và dũng cảm lăn lộn cùng xe, cáp …tiếp cận xe của chúng tôi, trên người cậu ta chỉ mặc độc cái quần đùi, lúc nước lũ chảy mạnh quá trôi tuột quần đùi luôn, may mà bên trong còn chiếc quần xịp! Khi lên bờ nhìn thấy cậu ấy giắt sau lưng quần một cuốn sách nhạc Hát mãi với Trường Sơn, mọi người chưa kịp hỏi cậu ấy đã vừa cười vừa nói: em thấy cả một đống sách trôi đi không kịp vớt, may mà giữ được một cuốn này làm kỷ niệm!
Thế đấy, cuốn sách giống như phần thưởng cho những công lao khó nhọc, hiểm nguy mà chàng thanh niên ấy không hề biết sợ đã lăn lộn cứu người, cứu xe. Đáng tiếc là tôi không kịp hỏi tên cậu ta. Thanh niên công nhân cầu đường đáng yêu vậy đấy!
Chúng tôi tháp tùng bác Nguyên đi đến tất cả các công trường thi công đường Hồ Chí Minh vào đến tận Kon Tum. Tôi xin phép Bác về Pleiku thăm ba mẹ tôi, cả đoàn công tác cùng về thăm ba mẹ tôi thật là cảm động. Quà cho ba mẹ tôi mang từ Hà Nội vào đã trôi mất ở ngầm Ca Tang cho nên tình cảm của đoàn công tác là món quà vô giá với ba mẹ tôi. Tôi tự tay lái xe chở anh em về Pleiku để rồi quay lại ngay Kon Tum trong đêm để ngày hôm sau quay về Đà Nẵng và ra Hà Nội bằng máy bay.
Trước khi lên đường đi công tác, anh Nguyễn Ngọc Quỳnh gọi điện thoại cho tôi nói rằng anh được Tổng biên tập báo Giao thông vận tải cử đi với đoàn vì vậy anh liên hệ với tôi để biết lịch trình và cùng đi. Anh Quỳnh hỏi tôi: Quỳnh phải chuẩn bị gì đây anh Sơn? Tôi nói ngắn gọn: Anh hãy chuẩn bị theo 8 chữ TINH THẦN SẮT ĐÁ, TRÁI TIM NHẠY CẢM!
Tôi giải thích: Tinh thần sắt đá để chịu đựng gian khổ; Trái tim nhạy cảm là để viết! Và thực tế đã chứng minh đúng như 8 chữ tôi đã dặn anh Quỳnh. Sau chuyến công tác anh Quỳnh đã viết rất nhiều bài về tình hình thi công trên đường Hồ Chí Minh và mấy bài thơ đăng trên báo Giao thông vận tải, báo Nhân dân…

9-nguoi-ca-tang

9 thành viên tháp tùng Bác Đồng Sỹ Nguyên vượt CA TANG chiều 10/9/2001

(Ảnh chụp tại Hồ Tây tối 11/9/2016, lần lượt từ trái qua: Văn Ly – Cận vệ Bác Nguyên;  Đức Trung – Lái xe 31A 0661;  Minh Hải -Tp QLDA1;  Xuân Cương – Văn phòng Chính phủ; Phạm Sơn – Tôi; Trần Kỳ Vân – Thư ký Bác Nguyên; Nhà báo, Nhà thơ Nguyễn Ngọc Quỳnh; Văn Du – Bác sỹ riêng Bác Nguyên; Trường Sơn – Lái xe Bác Nguyên).

Nhân chuyến thăm ba mẹ tôi ở Pleiku, Nhà thơ Nguyễn Ngọc Quỳnh đã cảm tác viết bài thơ tặng cho tôi và ba mẹ tôi bài thơ

THOÁNG ĐÊM PLEIKU

Những ngọn đèn cao áp xanh cây
Những quả đồi bá vai nhau trầm mặc
Trời đêm buông dịu dàng thầm lặng
Plêiku! Plêiku thao thức cùng con
Con đã vượt qua nghìn cây số đường dài
Đường Trường Sơn năm xưa trong đêm tối
Đường Hồ Chí Minh thênh thang mở lối
Đèo, dốc biết hạ mình trải rộng bươn xa
Plêiku đêm nay con về với mẹ, ba
Hình ảnh thiêng liêng giục con luôn gắng gỏi
Vượt dốc đường xa gối mỏi chân chồn
Và bao dốc vô hình… cho con thử sức
Con đã học bài học của mẹ, của ba dạy con vượt dốc
Của sách vở, của đường đời, của đêm tối qua, của tia nắng mới
Tích góp yêu thương cho ngày mong đợi
Về nơi sinh thành là ba mẹ của con
Trong ánh sáng đêm nay dẫu không thật rõ vuông, tròn
Thì giọng nói con đây là âm thanh của mẹ
Thì vóc dáng con đây là hình bóng của ba
Là quả ngọt, hoa thơm sau tháng năm giặc giã
Con trở về rồi ra đi vội vã
Như kháng chiến năm xưa, ba mẹ mỗi khi…
Với chiếc xe tay con cầm lái
Đi tiếp con đường Tổ quốc dạy con đi ./.

ca-tang-open

Mỗi lần đọc bài thơ này là tôi lại xúc động đến tuôn trào nước mắt vì thương ba mẹ mình suốt đời tần tảo, vất vả nuôi dạy chúng tôi nên người. Bây giờ già rồi vẫn suốt ngày ngóng đợi con về thăm.
Tôi thích nhất câu thơ: Thì giọng nói con đây là âm thanh của mẹ
Thì vóc dáng con đây là hình bóng của ba…
Câu thơ đã lột tả được nét di truyền chọn lọc của cha mẹ cho con mình.

Một năm sau, vào năm 2002, tôi thu xếp đưa ba mẹ tôi ra Hà Nội sống để tiện bề chăm sóc các cụ lúc tuổi già xế bóng. Ơn trời, cho đến nay ba mẹ tôi vẫn sống cùng con cháu mặc dù ốm đau bệnh tật của tuổi già luôn làm khổ các cụ. Hạnh phúc lớn nhất là cha mẹ mình vẫn còn sống cùng với mình theo năm tháng. Ước gì là mãi mãi.
*******

13662259_1343862635641347_4350391788945809966_o
Đã 31 năm trôi qua kể từ đêm 10/9/1985 và cũng đã tròn 15 năm trôi qua kể từ chiều ngày 10/9 năm 2001 ấy, ngày 10/9 đã như một định mệnh của đời tôi và như là ngày sinh thứ 2, thứ 3…để tôi răn mình hãy cố gắng SỐNG TỐT, NGHĨA TÌNH và thật NHÂN VĂN!

No Comments

Post a Comment