Phạm Hồng Sơn - Đá Núi - Mãi Hồng - Nồng Say | BA TÔI – NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÝ TƯỞNG!
51931
single,single-post,postid-51931,single-format-standard,eltd-core-1.0.3,ajax_fade,page_not_loaded,,borderland-ver-1.8.1,vertical_menu_enabled, vertical_menu_left, vertical_menu_width_290,smooth_scroll,paspartu_enabled,paspartu_on_top_fixed,paspartu_on_bottom_fixed,vertical_menu_inside_paspartu,transparent_content,wpb-js-composer js-comp-ver-4.11.2.1,vc_responsive
Batoia

BA TÔI – NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÝ TƯỞNG!

Batoi1

Để tiện theo dõi bài viết BA TÔI Người Đàn ông Lý tưởng, tôi đăng lại trọn bộ 10 Kỳ (17 trang) ở đây. Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam (http://vanhien.vn/) cũng đã đăng trong mục Nhân vật (gộp thành 2 Kỳ, mọi người có thể xem tại http://vanhien.vn/…/ba-toi–nguoi-dan-ong-ly-tuong–ky-1-62…http://vanhien.vn/…/ba-toi-nguoi-dan-ong-ly-tuong–ky-cuoi-…). Xin trân trọng cám ơn Tiến sỹ Phạm Việt Long (Pham Viet Long) Tổng biên tập Tạp chí Văn hiến Việt Nam đã quan tâm và đăng lại bài viết!
*******
BA TÔI
Người Đàn ông Lý tưởng!
*******
Mới đó mà Ba tôi đã đi xa về cõi Vĩnh hằng đã gần tròn năm. Chuẩn bị Giỗ đầu cho Ông vào ngày mùng 6 tháng 5 năm Mậu Tuất (19/6/2018 dương lịch) tôi ngồi suy tưởng về Ông với tất cả nỗi niềm Kính trọng, Mến phục và tràn đầy nhớ thương Ông!
Khi tôi còn bé, cũng như mọi đứa trẻ trên đời này, tôi thường quấn quít bên Ba tôi vì vậy tôi hay được nghe kể về quê hương, về tuổi trẻ, về hoài bão của Ông. Tôi là con trai trưởng của Ba Mẹ tôi mà. Ba tôi là người Làng An Sơn, Thôn Năng Tây, xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, vì vậy Ông lấy tên làng đặt tên cho tôi để luôn nhớ về quê Cha đất Tổ. Đêm đêm Ba tôi vẫn thường kể cho tôi nghe về quê hương xa xôi của Ông, vì thời gian đó Đất nước Việt Nam ta vẫn còn bị các thế lực thù địch chia cắt thành 2 miền Nam Bắc. Ba tôi tập kết ra miền Bắc từ năm 1954 theo tiếng gọi của Cụ Hồ và của Việt Minh, những tưởng 2 năm sau thì quay về lại miền Nam, ai ngờ phải đi mất 21 năm Ba tôi mới được trở về quê hương gặp lại Cha Mẹ người thân của mình! Đằng đẵng suốt chiều dài của thời gian ấy, nỗi nhớ quê hương đã được ông truyền cho tôi qua từng câu chuyện kể, có khi là kể đi kể lại, nhớ được chuyện gì Ông kể chuyện đó. Hồi đó tôi nghe kể rất chăm chú, tưởng tượng ra đủ thứ về quê hương nhưng vẫn chưa ý thức được đầy đủ về tình cảm, trách nhiệm của bản thân mình với quê hương xứ sở như bây giờ đâu, có lẽ tại tôi còn nhỏ, hơn nữa lại được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ chiến tranh do giặc Mỹ gây ra trên đất nước ta, nên trong bộ nhớ còn non nớt của tôi khi đó, quê hương chính là Ba tôi và những câu chuyện của Ông. Tuổi thơ của tôi gắn với quê Mẹ, Làng Quỳnh ở Quỳnh Lưu Nghệ An và Nông trường Quốc doanh 1/5 Nghĩa Đàn Nghệ An, nơi mà từ tình yêu của Ba Mẹ tôi đã sinh ra tôi, các em tôi và nuôi chúng tôi khôn lớn! Giai đoạn đầu những năm 60 của thế kỷ trước, do tình hình miền Nam gặp nhiều bất trắc và đổ máu, nhiều cán bộ tập kết của Nông trường được lệnh trở lại chiến trường miền Nam để chiến đấu với mục tiêu lớn lao là Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Ba tôi cũng nằm trong danh sách đó. Tuy nhiên, do tôi còn nhỏ hay ốm đau dặt dẹo, mẹ tôi phải đưa tôi đi từ bệnh viện này tới bệnh viện khác để chữa trị, từ Bệnh xá Nông trường, lên bệnh viện Huyện rồi về bệnh viện của tỉnh Nghệ An ở Thành phố Vinh…Mẹ tôi bảo hồi bé tôi khó nuôi vô cùng, cho nên tôi gần như bị còi cọc! Bởi vậy Ba tôi lên gặp lãnh đạo Nông trường đề nghị được ở lại vài tháng để chữa trị bệnh tật cho tôi, khi thuyên giảm thì sẽ lên đường về Nam ngay! Nhưng do thiếu thốn thuốc men nên bệnh của tôi kéo dài nhiều tháng, vì thế Ba tôi không thể toại nguyện được quay về miền Nam trực tiếp chiến đấu giải phóng quê hương mình, mà ở lại miền Bắc tiếp tục lao động sản xuất quên mình với khẩu hiệu: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt!
Ba tôi tham gia Cách mạng từ năm 1946 khi Ông mới 18 tuổi! Ông tuổi Thìn, sinh năm 1928 Mậu Thìn (sau này Tùng Dương con trai thứ 2 của tôi, cháu Nội của Ông cũng tuổi Mậu Thìn). Vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949, sang năm 2019 là tròn 70 năm tuổi Đảng! Tuổi trẻ của Ba tôi là những tháng ngày kháng Pháp trên khắp chiến trường Liên Khu 5. Ba tôi kể: Quân Pháp bắn súng dở ẹc (tức là rất tệ), ở đèo An Khê (thuộc tỉnh Gia Lai ngày nay, giáp với tỉnh Bình Định) gặp bộ đội mình sợ quá nên cứ bắn liên thanh lên trời! Tôi bảo: Nhờ vậy mà Ba mới sống đến giờ này chứ, nó bắn giỏi Ba hi sinh rồi còn gì!!! Ông cười khà khà…
Hòa bình lập lại, Ba tôi vào Qui Nhơn lên tàu tập kết ra Bắc theo đường biển. Ba tôi là lính Trung đoàn 93 Sư đoàn 324, sau này thuộc Quân khu 4. Ông đã từng được chọn đi học lái xe tăng nhưng do không đủ…chiều cao 1m70 trở lên nên bị loại vào phút chót! Ba tôi đóng quân ở Nghệ An, tham gia dẹp loạn biểu tình của Giáo dân (những người theo đạo Công giáo) tại Quỳnh Lưu. Ba tôi kể: Bộ đội ta được lệnh chỉ được bắn chỉ thiên và dùng sức để dẹp loạn thôi cho nên Giáo dân tràn lên dùng cả cào chỉa bổ vào đầu bộ đội làm chết người. Ức quá, chú Én tiểu đoàn trưởng hạ lệnh bắn thẳng mới trấn áp được bọn phản động đội lốt Giáo dân ở đó! Vì chuyện này mà chú Én bị kỷ luật, rồi phát bệnh Tâm thần. Trong thời gian đóng quân ở đây Ba tôi gặp Mẹ tôi, khởi đầu cho một thiên tình sử vĩ đại mà con cái chúng tôi luôn tò mò hỏi chuyện!
Mẹ tôi là con gái “Địa chủ” (sau sửa sai gọi là Địa chủ qui sai vì Ông Ngoại tôi đi buôn mà giàu chứ không phải Địa chủ bóc lột), Bà là người có tư chất thông minh, sắc sảo và xinh gái nhưng đã trải qua một đời chồng và có một con gái là chị Mai. Do mâu thuẫn giai cấp, vợ là con Địa chủ, chồng là thành viên đội cải cách ruộng đất, nên đành phải chia tay. Mẹ tôi bế chị tôi về lại nhà Cha mẹ đẻ, tức là Ông Bà Ngoại của tôi, định ở vậy nuôi con nhưng duyên phận đã khiến Mẹ tôi gặp Ba tôi và Mẹ tôi quyết định đi thêm bước nữa! Cám ơn Ông Trời đã xe duyên cho Ba Mẹ tôi để chúng tôi được có mặt trên cõi đời này! Rồi Ba tôi theo đơn vị vào đóng quân ở Yên Thành, Mẹ tôi cũng dành thời gian vào đó thăm Ba tôi. Năm 1958 Ba tôi đi tiền trạm lên Nghĩa Đàn tìm vị trí đóng quân cho Trung đoàn 93 chuẩn bị Xây dựng Nông trường Quân đội (sau này là Nông trường Quốc doanh 1/5). Ông kể: Lúc ấy Nghĩa Đàn, vùng đất phía Tây Nghệ An còn nguyên Rừng Xanh Núi đỏ, vẫn còn Cọp dữ (Hổ dữ) cho nên tối đến Ba phải đốt lửa 4 xung quanh võng để chống Cọp bắt! Mẹ tôi kể thêm: Đang đêm còn phải đánh kẻng báo động có Cọp về để cho cả Đội sản xuất biết và phòng tránh!
Có lần Mẹ tôi kể cho tôi nghe chuyện: Ba mi lừa tau là Ông ấy có 4 cây vàng mang từ trong Nam ra, khi lấy nhau rồi tau hỏi Vàng đâu? Ba mi cười bảo: Tôi nói vui vậy thôi làm gì có! Mẹ mày là con “Địa chủ” nên tôi nói cho oai vậy thôi! Tôi bảo: Công nhận Ba giỏi thật, phải nói vậy mới tán được Mẹ con đấy! Ông Ngoại tôi Ở Hà Nội về quê thì mọi sự đã rồi, Ông Ngoại làm mấy mâm cơm mời bà con họ hàng đến chứng kiến chàng rể mới người miền Nam. Thời đấy con gái Bắc mà lấy chồng Nam là hiếm có, là sự kiện đặc biệt lắm! Làng Quỳnh không ai giám lấy chồng xa như Mẹ tôi đâu! Mẹ tôi dành dụm và “chôm chỉa” của Ông Ngoại tôi được 13 đồng cân (chỉ) vàng y, Bà vẫn thường nói: Nhờ đó mà tau nuôi bây (chúng mày) được cho đến ngày nay!
Kể lại những chi tiết này để trân trọng công lao trời biển mà Ba Mẹ dành cho chúng tôi!
Chúng tôi lớn lên theo thời gian, theo những bữa cơm độn khoai, độn sắn, độn ngô…đi theo Ba Mẹ tôi từ Đội 12 (C12), Đội 7 (C7) đến Đội 15 (C15) rồi Đội 1 (C1). Ngày đó Nông trường được phân chia thành các Đội sản xuất, các Đội này có tiền thân là Đại Đội ( gọi là C) từ lúc còn là Quân đội. Năm 1960 Ba tôi làm lễ hạ sao, chuyển ngành từ Quân đội sang làm Công nhân Nông trường. Mẹ tôi đẻ tôi khi đang ở Nhà tập thể Đội 12, rồi chuyển về Đội 7 ở gần Làng Lung, giáp với Nông trường Bãi Trành tỉnh Thanh Hóa, nơi có Dốc Bò Lăn nổi tiếng ác liệt thời chiến tranh chống Mỹ! Nơi có núi Mươi, núi Rắn bạt ngàn rừng già cổ thụ, nhất là rừng Sú. Lúc đầu vẫn ở nhà tập thể làm bằng tranh tre nứa lá, mùa hè khô nóng hỏa hoạn xẩy ra liên tục mà cứ mỗi lần cháy tôi được thả ngồi vào chậu cùng quần áo để Ba tôi bê đi sơ tán và tôi thì cứ khóc mếu máo kêu: “Ba ơi, các chú đốt nhà ta rồi kìa”! Khi có mưa, bộ quần áo bảo hộ lao động của Ba tôi vẫn để trên dây phơi ngoài trời không cần mang vào nhưng tôi không chịu bắt phải mang vào nhà bằng được mới thôi. Sau đó gia đình tôi được phân lô làm nhà riêng cũng bằng nhà tranh vách đất. Nhà tôi ở gần cây Thị cổ thụ, thỉnh thoảng tôi vẫn về đây thăm lại gốc Thị xưa, nay đã không còn nữa! Cảm xúc trong một lần về thăm lại nơi này tôi đã viết mấy câu thơ mà trong đó tôi đã đổi gốc Thị thành gốc cây Thông:

Xuân ơi xuân! Phải là xuân không đấy?
Mà cứ mưa, lớp lớp với sương mù
Điệu Ví dặm đưa ta về chốn cũ
Bên gốc thông già còn vọng tiếng mẹ ru!
Nơi đã một thời mẹ cha lam lũ
Chắt chiu từng hạt gạo đỏ nuôi con
Nơi có một con đường mà anh đã chọn
Đi suốt đời mình biết sống, biết yêu!
Biết yêu em, biết cho tròn chữ Hiếu
Cha mẹ ở trong em và cả trong anh.
Để mai đây khi hoa trái ngọt lành
Ta vẫn bên Người dài lâu mãi mãi.
Em ơi em Xuân đã về mê mải
Để cho mình vui thỏa với ngày xanh
Để tình yêu mãi trong tim lấp lánh
Theo suốt đường đời, hạnh phúc cho nhau!

Batoi4

Các em tôi đều được sinh ra tại Đội 7 này cho đến cuối năm 1966 thì chuyển về Đội 15. Giai đoạn này nhiều sự việc diễn ra mà tôi vẫn nhớ như in! Khi lên 3, có những hôm tôi theo Ba tôi đi dự đám cưới, các Cô các Chú dọn bàn sạch sẽ rồi bảo tôi và một vài bạn cùng trang lứa đứng lên đó múa hát, do vô ý nên đầu tôi va vào thành bàn đau điếng, bật khóc. Vậy mà tôi vẫn vừa khóc vừa múa hát góp vui cho đám cưới, năng khiếu nghệ thuật đã được tôi thể hiện từ khi còn bé đấy nhé! Có hôm tôi theo Ba tôi vào rừng chặt nứa về sửa nhà, gặp lúc trời đổ mưa to, tôi ướt như chuột lột, lạnh run lẩy bẩy, Ba tôi đưa tôi vào trú mưa dưới tán cây to và châm lửa đốt thuốc lá đưa cho tôi hút và nói: “Hút đi con, hút cho nó ấm”! Tôi lại trào nước mắt mỗi khi nhớ đến kỷ niệm này! Mãi đến năm 1995 tôi mới bỏ được việc hút thuốc lá khi cô con gái rượu của tôi ra đời và không hút thuốc từ đó đến nay!
Thời kỳ này mọi người hay gọi tôi là Sơn Máy. Mẹ tôi bảo: Đi mẫu giáo mà ăn cháo, ăn cơm nhanh như máy nên các cô gọi tôi như vậy! Mãi sau này khi học cấp 3 tôi có biệt danh Sơn Hen do lúc còn nhỏ tôi bị ho hen khó chữa mà lại. Đi học Đại học có biệt danh Sơn Bít vì có anh bạn lấy tên Ban nhạc The Beatles của Anh Quốc nổi tiếng thế giới gắn cho tôi. Rồi còn có tên Sơn Thấp để phân biệt với bạn cùng học là Sơn Cao. Sau này chụp ảnh với Nhạc sỹ Văn Cao thì tôi tự nhận là …Văn Thấp….Kể ra cũng vui với các biệt danh này đấy chứ!
Chị Mai đi học Cấp 1, Cấp 2 ở Làng Lung, có hôm ở nhà không có ai trông, tôi theo chị đến lớp ngồi trong lớp với chị cứ như là học sinh vậy! Cuối kỳ chị đạt học sinh tiên tiến, lên bục nhận bằng khen, tôi cũng theo lên bục xếp hàng đứng nhìn xuống mặt tỉnh bơ! Thầy giáo hỏi: “Ai đây”? Chị tôi bảo : “ Dạ em trai của em đi theo thôi ạ”. Chị đi xuống tôi mới chịu xuống theo. Chị em tôi quí nhau lắm ấy, mãi sau này chị chờ cho tôi tốt nghiệp Đại học Giao thông xong mới chuyển gia đình vào PleiKu sống gần Ba Mẹ tôi!
Năm 1965 Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc, dốc Bò Lăn suốt ngày đêm ì ùm tiếng bom nổ, sau này tôi mới hiểu bọn Mỹ chặn đường chi viện cúa hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam trên đường 15 thuộc hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh mà dốc Bò Lăn là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt thời đó. Tôi hỏi Mẹ tôi: Mẹ ơi, dốc Bò Lăn là con bò nó lăn hả Mẹ? Bà giải thích: Không phải đâu con, người đi qua dốc đó phải vừa đi vừa bò vừa lăn để tránh bom Mỹ nên người ta gọi là dốc Bò Lăn đấy! Ra thế!
Rồi bộ đội vào đóng quân trong nhà tôi, đó là một khẩu đội pháo Cao xạ phòng không bắn máy bay Mỹ mà mọi người quen gọi là đầm già Giôn Xơn! Tôi còn nhớ tên chú Đắc, chú Nhương…mỗi lần các chú bắn máy bay tôi đứng xem những dòng đạn lửa như những con rồng bay vút lên không trung nhắm vào đầu giặc Mỹ, có chiếc bị trúng đạn pháo bốc khói đen kịt, tôi vỗ tay hoan hô ầm ỹ khiến Mẹ tôi phải kéo tôi xuống hầm trú ẩn ngay tắp lự.
Hồi đó bà Ngoại lên ở trông coi chúng tôi cho Ba Mẹ tôi đi làm, có hôm hai bà cháu đang đi nghe tiếng máy bay Mỹ bà ngoại kéo tay tôi trốn vào rừng sú để tránh bom. Ngày nay, những cánh rừng bạt ngàn cổ thụ năm ấy đã không còn bóng dáng đâu nữa rồi! Một thời gian sau bộ đội chuyển quân về hướng Đội 6 Đội 8 ở khu vực làng Sằng, thấy tôi nhớ các chú bộ đội, Ba tôi cõng em Thủy (lúc đó khoảng 3 tuổi) trên lưng, tay dắt tôi đi bộ từ Đội 7 lên tận Đội 8 (xa gần chục cây số) thăm các chú, đi cả đêm vậy, tôi vẫn nhớ những ánh đèn pha của xe tải chiếu trên đường soi rõ bóng Ba tôi cõng em tôi trên lưng lầm lũi trong đêm, bụi đường tung mù mịt. Hình ảnh xúc động ấy suốt đời đậm nét trong trí nhớ của tôi! Tấm lòng quân dân thời đó ấm nồng và gắn bó thật tuyệt vời, không giấy bút nào tả xiết!
Do chiến tranh ngày càng ác liệt, Ba tôi phải đào hầm trú ẩn tránh bom ngay trong nhà, hầm chữ A hay còn gọi là hầm Triều Tiên, gia cố 2 bên vách bằng những cây gỗ tròn chặt ở trong rừng già. Có đêm đang họp Đội giữa chừng nghe có báo động, ngay lập tức Ba tôi chạy về nhà bế tôi lúc đó đang ngủ và các em tôi xuống hầm trú ẩn. Người Cha Vĩ đại ấy luôn luôn che chở cho các con tránh mọi hiểm họa mà bom đạn Mỹ có thể gây ra để bảo toàn tính mạng cho các sinh linh bé bỏng của mình!
Tôi nhớ lúc 4 5 tuổi gì đó, Ba tôi đưa tôi đi cắt Amidan theo chương trình chăm sóc sức khỏe của Nông trường cho trẻ em, đến nơi tôi đòi đi đại tiện, Ba tôi vội vàng bế tôi ra vườn sắn gần đó cho tôi ngồi ị, rồi bế tôi vào gặp các Bác sỹ, nhìn thấy cái bô dưới đất dính đầy máu tôi sợ chết khiếp, Ba tôi ôm tôi từ phía sau để Bác sỹ cắt nhanh, gọn Amidan cho tôi. Cả tuần sau đó tôi không nói được vì đau. Khỏe lại, tôi thấy Ba tôi chở em Thủy về Quỳnh Đôi, tôi đòi về theo không được nên gào khóc ầm ỹ, chú Dụ hàng xóm thấy vậy vác cây liềm cải tiến (cán dài cả mét dùng để phát cây, phát cỏ) dơ lên trời dọa chém xuống, tôi sợ quá chạy ngay vào trong nhà im thin thít! Tôi quấn quít Ba tôi lắm ấy nên luôn đòi đi theo Ông. Có lần Ba tôi đi tập quân sự tôi cũng đòi đi theo, Ba tôi và các chú trong đội không cho theo. Tôi bí mật xách guốc (hồi nhỏ chỉ có guốc mộc để đi) kẹp nách đi theo đằng sau xa. Đại đội cứ đi đều và hành quân dã ngoại, đi được một đoạn dài đến chân dốc bỗng dưng cả đội dừng lại, thì ra tôi đã bị lộ do các chú ở dưới dốc nhìn lên phát hiện ra tôi đang ở trên đỉnh dốc. Đại đội trưởng chỉ tay về phía sau trên đỉnh dốc nói: “Thằng con Ông Hoàng kia kìa, nó cứ bí mật bám theo thế này thì làm sao mà hành quân! Thôi ông đưa nó quay về nhà đi, không phải đi nữa”! Ba tôi quay lại cõng tôi về nhà, Mẹ tôi mừng rỡ: “ May quá, từ hồi nãy đên giờ tìm mãi không thấy thằng Sơn đâu”! Mẹ tôi mới sinh em Trà nên cũng phải dành thời gian chăm sóc em nên tôi mới có có hội lẻn đi theo Ba tôi mà. Ba tôi lấy tên con sông quê hương, sông Trà Khúc, để đặt tên cho con trai thứ 2. Tôi hay gọi trêu em tôi là Trà Khét!
Chiều ngày 02/9/1966, khi ăn cơm chiều nhìn thấy Mẹ tôi đứng tựa cửa, mang bụng bầu thở khó nhọc, tôi xoa bụng Mẹ và nói: “Bụng Mẹ tròn thế”! Xẩm tối tôi đi theo Ba tôi họp Đội, đang họp thì thấy cô Huệ hàng xóm gọi Ba tôi bằng giọng Nghi Lộc đặc sệt không có dấu: “Anh Hoang (Hoàng) ơi, chị Chung đe (đẻ) rồi”! Ba con tôi về nhà ngay, vào nhà thấy Mẹ tôi đang ngồi trên giường, bên cạnh là em gái tôi với dây rốn còn nguyên trên bụng đang nằm khóc oe oe. Tôi cầm lọ thuốc đỏ sát trùng đứng bên giường, Mẹ tôi lấy tay gạt tôi ra và nói: “Trẻ con đi ra ngoài, đứng đây làm gì”. Tay mẹ tôi gạt đúng vào lọ thuốc nên bị đổ xuống nền nhà, Ba tôi khệ nệ bê chậu nước nóng vào rồi đưa tôi ra phòng ngoài. Ba Mẹ tôi đặt tên em là Khánh, vì sinh đúng vào ngày Quốc Khánh mà!
Cuối năm đó chúng tôi chuyển từ Đội 7 về Đội 15 ở bên cạnh Làng Chùa, làng của người dân tộc Mường (còn gọi là dân tộc Thổ). Chúng tôi đi bộ gần cả chục cây số, Ba tôi cõng em Thủy và dắt tay tôi đi trong đêm đen. Đường thì gập ghềnh khó đi nhưng đôi chân bé nhỏ của tôi vẫn guồng theo kịp đoàn người khá đông trong đó có chị Mai tôi. Mẹ tôi và 2 em Trà, Khánh đã đi trước bằng xe ô tô từ chiều (ưu tiên trẻ nhỏ mới sinh). Đi chừng 3 tiếng đồng hồ chúng tôi ra đến nhà chú Khiếng và nghỉ lại ở đây! Sau này gia đình chú là hàng xóm của gia đình tôi và đã nhường hẳn một mảnh đất cả mấy trăm m2 cho Ba Mẹ tôi cất nhà để ở. Tình người, tình đồng chí đồng đội thời đó cao quí và nghĩa hiệp biết nhường nào!
Mẹ tôi tuy là rất nghiêm khắc với chúng tôi, sự nghiêm khắc dạy dỗ các con được truyền từ Ông Ngoại tôi qua Mẹ tôi rồi qua thế hệ chúng tôi nên nền nếp gia phong được duy trì và giúp các thế hệ con cháu trưởng thành, nhưng thỉnh thoảng cũng nuông chiều tôi ra phết! Có lần tôi đòi đi mua dầu hỏa (nhiên liệu để thắp sáng đèn dầu trong nhà thời đó) Mẹ tôi đưa tiền và chai cho tôi ra Căng- tin Nông trường mua, tôi phấn khởi lắm, đi ngay và hùng dũng vác chai dầu trên vai mang về, đến nhà tôi kêu lên: “Mẹ ơi, con mua được dầu rồi này”! Mẹ tôi cầm lấy chai và hỡi ôi: “Sao không có tý dầu nào thế này”??? Thì ra do chai đầu được nút bằng lá chuối mà tôi thì cứ vác trên vai làm nút chuối rơi ra nên dầu chảy hết không còn giọt nào!!! Hồi bé tôi nghịch ngợm lắm, nhưng là nghịch ngầm, nên thường hay bị ăn roi! Có lẽ sự hiếu động của tôi đã nhiều lần làm bực mình Ba Mẹ tôi suốt cả một thời niên thiếu, nên lớn lên tôi cố gắng làm hài lòng các Cụ để “chuộc” lại quá khứ “hay phát minh sáng tạo ngược đời” của chính mình!
Ra Đội 15 tôi mới bắt đầu đi học Vỡ lòng (lớp 1 bây giờ). Một buổi sáng Ba tôi cầm cuốn vở học sinh bìa xanh sậm, gọi tôi đến bên cạnh và cầm bút vừa ghi tên tôi lên trang bìa vừa nói: “Tên con là Phạm Hồng Sơn nhé, đến lớp con cứ đưa vở cho cô giáo nghe chưa”! Tôi vâng lời rồi đi đến lớp gặp cô giáo, tội chạy ngay đến bên cô và nói: “Thưa cô, cháu là Phạm Hồng Sơn đây ạ”! Tôi hỏi Mẹ tôi: “Sao lại đặt tên con như vậy hả mẹ”? Bà giải thích: “Sơn là tên Ba mi đặt, Hồng Sơn là tên một ngọn núi ở Nghệ An, Phạm là họ Ba, ghép lại là Phạm Hồng Sơn”! Mãi đến những năm 1970, để phục vụ cho công việc thi tuyển từ cấp 2 lên cấp 3 tôi mới làm giấy Khai sinh cho chính mình và ra Thị trấn Nông trường 1/5 đưa cho chú Lê Tấn Tìm Chủ tịch Ủy ban Thị trấn ký tên đóng dấu. Giai đoạn này tôi cũng đã lớn và chứng kiến, hiểu và biết nhiều thay đổi của cuộc sống và của Nông trường! Mẹ tôi hay đau yếu nên cũng phải thường xuyên chữa trị bệnh tật, mọi công việc đều dồn hết lên đôi vai vững chãi của Ba tôi. Không biết lấy năng lượng và kiến thức ở đâu mà Ba tôi rất khỏe, lại chịu khó chịu khổ vô song, làm được không biết bao nhiêu công việc phi thường mà không phải người đàn ông nào cũng làm được! Trong mắt con cái chúng tôi Ông thật tuyệt vời, thật Vĩ đại! Một mình Ông nuôi vợ ốm và 5 đứa con ăn học đến nơi đến chốn, mà chúng tôi đều học giỏi, ngoan ngoãn và siêng năng làm các công việc trong nhà phụ giúp cho Ba Mẹ! Ca ngợi Cha mình thì ai cũng giống ai, nhưng với Ba tôi, chúng tôi khâm phục Ông, thương Ông và cố gắng làm cho Ông hài lòng, sung sướng, nhất là mỗi khi dự họp phụ huynh học sinh được nghe các thầy cô giáo khen con mình, đều đạt danh hiệu Học sinh tiên tiến, học sinh giỏi và Ông lại quên hết mọi vất vả mệt nhọc, nụ cười tươi rói làm rạng rỡ khuôn mặt phúc hậu của Ông!
Ngoài thời gian làm việc cho Nhà nước mà Ông luôn trong tốp dẫn đầu về năng suất lao động, Ba tôi tăng gia sản xuất thêm để cải thiện cuộc sống gia đình.
Ba tôi nuôi lợn, gà, chó, mèo… đặc biệt là nuôi ong lấy mật. Mỗi lần thấy có đàn ong bay qua nhà, Ba tôi ngước nhìn thấy đó là ong nhà thì ngay lập tức hô hào chúng tôi cùng Ông ném đất đá cây khô vào đàn ong khiến cho chúng dừng lại đậu xuống cây cối quanh nhà, ông tiến đến tìm bắt con ong Chúa và thả vào bọng để nuôi, lũ ong thợ và ong sắt đi theo, cứ thế xây dựng tổ ấm mới quanh ong Chúa. Khi mật đã tràn trề, vào buổi tối Ba tôi dùng khói từ con cúi làm bằng giẻ thổi bọn ong dạt ra rồi gỡ từng bánh tổ ong ra vắt lấy mật, sáp còn lại Ông cho chúng tôi ăn ngay tại trận. Mật thì đổ vào chai dùng dần, sáp thì cho con ăn, còn khuôn mặt Ba tôi thì… sưng vù vì bị ong đốt! Có lần tôi ăn nhiều sáp ong quá bị say, nằm trên giường lăn qua lăn lại rên ư ử: “Ba ơi, con mệt quá” khiến Ông phải mất thêm thời gian chăm sóc tôi!
Trong vườn và sân nhà Ba tôi trồng đủ thứ, mùa nào thức ấy! Lúa, nếp, khoai, ngô, sắn, chuối, dứa, mít, bầu, bí, mướp, dàn thiên lý…tự sản tự tiêu, chủ yếu phục vụ cho 5 cái tàu há mồm chúng tôi! Ba tôi bắt chước rất giỏi, chỉ cần nhìn qua người khác làm một lần là Ông về nhà tự làm được ngay. Cái năng khiếu này Ông đã di truyền cho tôi cho nên tôi bắt chước cũng khá tốt!
Đặc biệt, Ba tôi có một cái nghề…bá chấy, đó là nghề cất vó bắt cá! Nhờ những mẻ cá Ông cất được mà bữa cơm chúng tôi có thêm chất đạm, vượt qua những tháng ngày đói khổ thời chiến! Cứ hễ trời đổ mưa là Ba tôi lại xách vó ra những con suối có vũng nước phục kích bắt cá. Có hôm Ông đi đến sáng mới về, trong giỏ đầy cá to nhỏ đủ loại…Mẹ tôi cho nghệ vàng vào kho lên, ngon ơi là ngon! Nhiều lần Ba tôi cất được những con cá Gáy (cá Chép) nặng 2 3 ký lô, ăn mấy ngày mới hết. Có lần Ông bắt được con cá Nheo da trơn nặng 5 6 kg, không hiểu sao Ba tôi lại không ăn được cá da trơn, nấu chín rồi Ông gắp cho tôi và bảo: “Ăn đi con, ăn đi, ngon lắm” trong khi mình không ăn mà vẫn biết là ngon! Cái nghề cất vó này tôi chỉ biết đứng nhìn Ba tôi làm, tôi không thể học được. Nó không khó nhưng có lẽ tôi không đủ khỏe như Ông để có thể dẻo dai thực hiện được! Cũng nhờ lo đi cất vó mà có lần Ba tôi thoát được thảm cảnh ngộ độc nấm rừng của mấy Mẹ con tôi! Chiều hôm đó là Chủ nhật, trời đổ mưa rất to, Ba tôi xách vó đi bắt cá, mấy mẹ con ở nhà nấu cơm canh, lúc ấy Mẹ tôi đang nấu canh miến với mướp, bỗng em Thủy chạy vào nói: “Mẹ ơi, có cây nấm thần ngon lắm này, mẹ ra hái vào nấu canh cho con ăn”! Bà đến xem rồi hái nấm vào rửa sạch, cho luôn vào nồi canh đang nấu. Đến bữa, Mẹ tôi để phần riêng cho Ba tôi rồi mấy mẹ con ăn trước. Món canh nấm rất ngon nên cả nhà húp xì xoạp khoái chí. Ăn xong, trời vẫn không tạnh, chị Mai khoác áo mưa đi lên Đội 9 để kịp sáng mai đi làm, thời gian đó chị đã là Công nhân Đội 9 rồi mà. Tôi đứng trên giường diễn kịch bắt chước theo vở tuồng được xem các cô các chú Đội Văn nghệ Nông trường hay diễn, trên vai khoác cái chăn mỏng (giả làm áo choàng) miệng ngâm nga:…” như ta đây…ử ử ử ử…chức to hơn vịt…ử ử ử ử…”, tự nhiên tôi thấy đau đầu chóng mặt, tôi kêu lên: “Mẹ ơi, con đau đầu quá”, Mẹ tôi làm ngay một câu đặc sệt giọng Quỳnh Đôi: “Cho mi chết” chắc là đang bực mình cái vụ tôi diễn kịch chẳng giống ai. Tôi nằm xuống giường, rồi thấy cả nhà ai cũng kêu đau đầu, buồn nôn! Một lúc sau chú Thiều Đội trưởng xách cái đèn bão đến nhà cùng mấy cô chú nữa cấp cứu cho mấy mẹ con bị ngộ độc nấm rừng. Ôi thôi thôi, cả nhà miệng thì nôn, dưới thì đi ngoài như nước chảy…cứ thế xả hết vào thúng tro. May mà thoát chết! Hôm sau mới biết chị Mai cũng vừa đi vừa nôn mửa trên đường. Khuya hôm đó Ba tôi về chăm sóc cho cả nhà và không dám ăn canh nấm nữa. Đúng là nhớ đời! Ba tôi không bị ngộ độc cũng nhờ… trời thương và đức tính cần cù, chịu khó, chịu khổ của mình!
Ba tôi cũng biết làm nhà, vài ba năm Ông lại sửa, lại làm mới bằng gỗ, tranh tre do Ông tích cóp chặt ở trên rừng mang về. Đan lát rổ rá, dần sàng, bồ đựng thóc…sử dụng xe cải tiến vận chuyển…Tết đến Ông ngồi cả ngày gói bánh tét, chiều 29 30 bắc nồi luộc, tôi ngồi bên cạnh chờ bánh chín để thưởng thức trước cái bánh mà Ba tôi gói riêng cho tôi, nhỏ nhỏ xinh xinh. Những kỷ niệm đó mãi mãi là hành trang theo tôi suốt cuộc đời…
Tôi không bao giờ quên được hình ảnh cái lưng áo trắng xóa mồ hôi muối cuối mỗi ngày làm việc của Ba tôi, nhất là vào những ngày hè nóng bức! Ông cởi áo ra vắt lên giây phơi rồi ngồi nghỉ, không bao giờ thở than, phàn nàn hay cáu gắt. Thương Ông lắm ấy! Có lẽ lâu dần thành nếp, tôi thương Ba tôi vô cùng vô tận. Tôi cố gắng học tập rồi đi làm, hễ có cơ hội là tôi quan tâm đến Ba Mẹ tôi, tìm cách bù đắp lại một phần nào những hi sinh thầm lặng cả đời của Ông Bà!
Làm sao mà quên được có lần Ba tôi ốm, Ông nằm sấp trên giường rên la vì đau đớn, có lúc miệng lẩm bẩm: “Chỉ tiếc là 2 thằng con trai còn nhỏ quá”! Tôi cứ tưởng là có chuyện gì nghiêm trọng lắm, sáng ra mới “tá hỏa”: Ba tôi bị…sâu răng!!! Vui không chịu được! Ông bị sâu răng liên tục và rụng nhiều nên miệng bị móm bởi vậy ở Nông trường người ta hay gọi Ba tôi là Ông Hoàng “ Móm”!

Batoi2
Ba tôi cũng là người hay hát đấy nhé. Đêm nào rảnh rỗi là Ông ca Bài chòi cho chúng tôi nghe…Hố hụi…là hò ơ…Ba tôi nhớ quê trong miền Nam xa xôi, khúc hát Huê Tình phần nào xoa dịu nỗi lòng xa xứ của Ông, giúp Ông vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời! Cái gen, cái máu văn nghệ của Ông Ngoại tôi và của Ba tôi đã truyền cho tôi và các em tôi, cho nên chúng tôi rất yêu thích, đồng thời ca múa hát cũng hay và luôn là hạt nhân cho phong trào của lớp học (khi còn đi học), của cơ quan (nơi mình công tác). Mẹ tôi kể: “ Ông Ngoại tôi tên là Hồ Quang Hách (ở quê còn gọi là Ông Bang Hách, vì để thuận tiện cho việc buôn bán nên Ông tôi đã mua chức Bang tá của chính quyền Pháp thuộc, tương tự như Công an Huyện bây giờ ấy), cũng rất có năng khiếu văn nghệ. Ông Ngoại là người đầu tiên đưa Tuồng về diễn ở Quỳnh Đôi, và cũng là người đóng vai chính diễn Tuồng cho bà con xem”. Tôi thừa hưởng từ Ông Ngoại tôi và Mẹ tôi những “Gen trội” đậm chất Làng Quỳnh, một làng quê hiếu học, đỗ đạt và đầy tính nhân văn!
Từ nhỏ tôi đã tự mày mò chế tạo ra cây sáo làm bằng nứa để thổi, không hiểu xem ở đâu mà tôi về nhà tự tìm ống nứa, tìm dùi sắt nung đỏ dùi lỗ làm ra cây sáo cho riêng mình. Đêm đến tôi ngồi thổi sáo réo rắt theo những điệu nhạc tôi nghe được qua loa phóng thanh công cộng. Một thời gian sau Mẹ tôi không cho thổi sáo vì sợ tôi “tốn hơi”, do hồi bé tôi bị hen mà! Tôi chuyển qua chế tạo Đàn bầu! Thế mới “siêu” chứ! Chẳng ai dạy cho cả, tôi tìm mấy mảnh gỗ mỏng, ghép lại thành hộp đàn, tách sợi cáp của dây phanh xe đạp làm dây đàn, lấy vỏ hộp lon sữa bò làm bầu, que gẩy bằng tre, thế mà tôi cũng luyện được một vài bản độc tấu Đàn bầu học lỏm qua Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam! Đặc biệt là bài: Vì miền Nam, bản nhạc do Nghệ sỹ Nguyễn Tiến thể hiện, một phần vì Ba tôi là người miền Nam, một phần là bản nhạc quá hay nên tôi đã say mê tự mày mò làm đàn, tự mày mò học đàn để đêm đến tôi đàn cho cả nhà nghe. Thỉnh thoảng Ba tôi rủ bạn bè Ông sang nhà mình: “Để nghe thằng Sơn đàn bầu hay lắm”! Tiếc rằng sau này tôi không có điều kiện để hoàn thiện khả năng đàn bầu của mình, lâu dần cũng lãng quên!
Tháng 9/1969 cả Nông trường khóc rưng rức khi nghe tin Bác Hồ từ trần. Trong buổi lễ truy điệu Bác, mấy khẩu Đại liên, 12 ly 7 của Đội tự vệ Nông trường nhả đạn liên hồi lên bầu trời chào Vĩnh biệt Người. Nỗi đau xót tràn ngập mọi ngõ ngách Nông trường và cả đất nước! Đám trẻ con chúng tôi im lặng nhặt nhạnh những vỏ đạn tung tóe dưới đất mang về nhà cất để thỉnh thoảng mang ra làm đồ chơi, thời đó làm gì có cái gì mà chơi đâu chứ!
Năm tôi học lớp 4, có một hôm cô giáo cho bài tập về nhà là làm mấy câu thơ Lục Bát để nạp bài vào sáng hôm sau. Tối đến thấy tôi ngồi trâm ngâm cắn bút Mẹ tôi lại gần và hỏi nguyên do. Bà bảo: “Để mẹ giúp cho”! Rồi Bà giảng giải: “Lục là 6, Bát là 8. Gieo vần chữ thứ 6 của câu Bát phải cùng vần chữ cuối của câu Lục. Tiếp theo, vần cuối của câu Lục phải cùng vần chữ cuối của câu Bát dòng trên”! Rồi Mẹ tôi làm ví dụ cho tôi mấy câu…Mẹ tôi đã dạy tôi làm thơ như vậy đó! Sau này tôi cố gắng học giỏi môn văn để khỏi phụ công Mẹ tôi! Có lần tôi bị thầy giáo môn văn chấm điểm 0 với lời phê: “Chữ xấu quá không đọc được”! Vì xấu hổ nên tôi quyết chí tập viết trên các tờ báo cũ (hồi đó thiếu giấy viết mà) sau khoảng 2 tháng miệt mài luyện chữ, tôi đã viết đẹp hơn trước rất nhiều, thậm chí còn được cô giáo chủ nhiệm lớp gọi lên viết sổ đầu bài, viết thẻ đoàn viên…
Đầu năm 1975 là những tháng ngày không thể nào quên. Tin tức thắng trận từ miền Nam bay ra theo tiếng loa phóng thanh, bay qua chiếc radio Oriongton của Lãnh đạo Đội. Hôm 24 25/3 tin giải phóng Quảng Ngãi bay về, Ba tôi chạy ra đầu ngõ gặp các chú cùng quê ôm nhau khóc, miệng mếu máo: “Quảng Ngãi giải phóng rồi, sướng quá”! Trưa 30/4 cả Nông trường reo vang mừng chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Đặc biệt hơn cả đó là: Chiến tranh đã chấm dứt, Hòa Bình đã được lập lại! Mấy ngày sau, Nông trường bố trí xe cho Ba tôi cùng các chú về Nam thăm quê sau 21 năm xa cách. Tôi đòi đi theo nhưng xe không còn chỗ nên đành ở lại. Nửa tháng sau, Ba tôi quay lại Nông trường hồ hởi báo tin: Ông bà Nội tôi và các em của Ba tôi vẫn còn sống và mừng rỡ khi Ba tôi trở về. Bà Nội tôi tưởng Ba tôi đã chết nên đã lập bàn thờ cho Ba tôi rồi kia mà, bây giờ đoàn tụ thế này có niềm vui nào vui hơn nữa đâu!
Năm sau, năm 1976 Ông Nội tôi mất, Ba tôi không về chịu tang được, lúc đó là dịp nghỉ hè nên Ba Mẹ tôi cho tôi và em Thủy về Quảng Ngãi chịu tang Ông Nội tôi. Và, đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được biết quê Cha đất Tổ. Đứa cháu “đít nhôm” về bái Tổ tiên và gặp lại những điều đã được nghe kể qua câu chuyện của Ba mình trong những tháng năm dài biệt xứ!
Thời gian đó anh Kỳ, một người anh con bác họ xa bên Ba tôi vào làm việc ở Nông trường, anh đi học ở Liên Xô về. Anh có cây đàn Ghi ta Nga nên những đêm trăng sáng tôi ngồi nghe anh đàn hát say sưa. Thấy vậy anh bảo: “Em thi đậu Đại học anh sẽ thưởng cho em cây đàn Ghi ta này đấy, ráng lên em”! Tôi ghi nhớ ngay lời hứa này. Cuối năm 1977 tôi đậu Đại học, tôi mang giấy gọi đến gặp anh Kỳ, tuy có tiếc rẻ nhưng anh vẫn thực hiện đúng lời hứa của mình tặng cây đàn yêu quí của mình cho tôi. Ôm cây đàn vào lòng tôi sung sướng và hứa sẽ học đàn giỏi như anh vậy! Nhờ biết chơi đàn Ghi ta, tuy không giỏi lắm, mà sau này tôi mới có thể sáng tác nhạc phục vụ cho các kỳ Hội diễn nghệ thuật quần chúng và đạt được nhiều kết quả khá tốt!
Việc tôi đậu Đại học khiến cho Ba tôi vui mừng khôn xiết. Ông lên gặp Lãnh đạo Nông trường báo cáo và tôi được hoãn đi nghĩa vụ quân sự để đi học Đại học. Ba tôi đưa tôi lên bến xe Thái Hòa đón xe khách ra Hà Nội nhập học. Và bao giờ cũng vậy, Ba tôi luôn là người đưa tôi ra bến xe để đi học và đón tôi khi về thăm nhà trên chiếc xe đạp cà tàng của Ông! Ba tôi rất kiên quyết trong việc ăn mặc, tóc tai của tôi, mặc dù tôi đã là một thanh niên trưởng thành, không có chuyện mặc quần loe, tóc dài mà yên thân với Ông đâu nhé! Ba tôi Bôn sệt, y hệt như các bậc phụ huynh thời đó mà thế hệ chúng tôi hay gọi đùa một cách thân thương là: “Ông già Khốt- ta – bít” hay “Cụ Khốt”!
Đầu năm 1978 tôi nhận được thư của Ba tôi nói về chuyện Nông trường thành lập bộ khung cán bộ chuyển hẳn vào Tây nguyên công tác, Ba tôi dự định đi Gia Lai – Kon Tum nên Ông hỏi ý kiến tôi (Ông đã rất tôn trọng cậu trai trưởng nhà Ông rồi đấy nhé!) có đồng ý cho Ông đi và sẽ chuyển cả nhà vào đó luôn không? Theo Ba tôi thì vào đó sẽ có cơ hội “đổi đời” cho cả nhà mà. Tôi viết thư trả lời nhất trí để Ông vào trước một mình, nghỉ hè tôi sẽ vào đó xem thế nào đã rồi hãy quyết định đưa cả nhà cùng vào, vì hồi đó nghe nói đến Tây Nguyên là thấy cảnh “rừng thiêng nước độc” khó lường! Tháng 6 /1978 từ Hà Nội tôi đi tàu Liên vận vào Diêu Trì (Bình Định) rồi đi xe đò (xe khách) lên Thị xã Pleiku theo QL 19. Đường lên Tây Nguyên heo hút lại đang vào mùa mưa tạo cho người ta cảm giác vừa tò mò khám phá vừa thấy lo lắng trong lòng vì những gì chưa biết đang đợi mình ở đó. Chiều tà , xe vào đến bến xe Phù Đổng (ngày nay là Khách sạn Hoàng Anh Gia Lai) vừa bước xuống xe đang ngơ ngác như một chú Nai tồ, tôi nghe thấy tiếng Ba tôi gọi: “Sơn ơi, Ba đây”! Tôi mừng rỡ ôm chầm lấy Ông! Hóa ra Ba tôi đã ra bến xe từ trưa đợi tôi theo như trong thư tôi báo ngày rời Hà Nội vào đây. Ba tôi đưa tôi về khu tập thể Sở Nông nghiệp nơi Ông làm việc, dọc đường nhìn thấy phố xá hiện đại tôi thích thú ngay lập tức. Tôi đồng ý hoàn toàn với Ba tôi đưa ngay cả nhà chuyển vào đây sinh sống! Đây là một quyết định lịch sử của Ba Mẹ tôi và là một quyết sách vô cùng sáng suốt và đúng đắn!
Cuối năm 1978 gia đình tôi chuyển vào sinh sống tại Thị xã PleiKu, chị Mai lúc đó cũng đã lập gia đình riêng ở lại Đội 14 đợi tôi tốt nghiệp Đại học rồi sẽ cùng vào PleiKu. Ba Mẹ tôi đã sinh sống ở đây hơn 20 năm, mãi cho đến năm 2002 tiếp tục “ làm một cuộc cách mạng” nữa trở lại miền Bắc!
Tết Nguyên đán Kỷ Mùi 1979 tôi về ăn tết với gia đình chị Mai. Đây là cái tết đầu tiên tôi xa Ba Mẹ tôi và cũng là cái tết cuối cùng của tôi trên đất Nông trường 1/5 yêu dấu! Thời gian này tôi đã “phải lòng” một cô gái ở Nông trường đẹp người, đẹp nết và hát rất hay, vì vậy cái tết này còn có một ý nghĩa đặc biệt nữa với cái tuổi đôi mươi của tôi, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý của gia đình nên rồi mọi chuyện cũng chỉ dừng lại ở mức độ…bạn bè. Tuy là chuyện đơn phương từ phía tôi, nhưng cho đến nay tôi vẫn hay nhắc đến chuyện này như là một kỷ niệm đẹp đẽ, trong sáng đầu đời!
…”Biết yêu em biết cho tròn chữ Hiếu
Cha mẹ ở trong em và cả trong anh
Rồi mai đây khi hoa trái ngọt lành
Ta vẫn bên Người dài lâu, mãi mãi”…
Chúng tôi luôn luôn là những đứa con Hiếu thuận với Cha Mẹ của mình và luôn cầu mong cho các Bậc sinh thành sống dài lâu, sống mãi!
Nghỉ hè năm 1979 tôi về PleiKu cùng với Ba Mẹ và các em tôi. Lúc này gia đình tôi đang ở tạm trong khu tập thể của Sở Nông nghiệp, Tây nguyên đang mùa mưa nên mưa tầm tã suốt ngày đêm, mưa đến “thối cả đất”! Năm ấy lũ lụt xẩy ra khắp nơi, giao thông hầu như bị tê liệt, hết thời gian nghỉ tôi đang chưa biết phải làm thế nào để đi thì chú Sâm Chánh Văn phòng Sở bày cho tôi đi bằng máy bay! Khổ nỗi thời đó chỉ có cán bộ Nhà nước mới có tiêu chuẩn đi máy bay, chưa phổ thông như bây giờ. Chú Sâm phải trổ tài “đạo diễn”: Mua vé cho Ba tôi đi công tác Hà Nội rồi làm giấy xác nhận bị mất Chứng minh thư! Vậy là tôi đàng hoàng lên máy bay dưới tên của Ba tôi bay ra Hà Nội, vậy mà cũng vào học chậm mất 1 tuần. Lần đầu tiên trong đời được đi máy bay mà lại bay trong điều kiện “đặc biệt” nên đã tạo ra ấn tượng không phai trong tôi. Khi làm thủ tục lên máy bay nhân viên Hàng không nhìn tôi băn khoăn: “Tại sao sinh năm 1928 (khoảng 50 tuổi) mà trẻ thế nhỉ?” tôi nhanh miệng: “Nhìn vậy thôi, tôi nhiều tuổi rồi”! Ơn Trời, thế là trót lọt! Đang bay trên không bằng máy bay cánh quạt AN 24, bỗng nhiên thấy khói bốc lên mù mịt tôi hốt hoảng: “Cháy kìa”! Cô Tiếp viên nói ngay: “ Không phải cháy đâu, mây lọt vào đấy”, mọi người được phen hoảng hồn!!! Còn tôi tẽn tò vì bị “quê”. Máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm rồi xe ô tô đưa mọi người về Bờ Hồ, tôi đón tàu điện lên thẳng khu tập thể Voi Phục Cầu Giấy. Cái gì đầu tiên trong đời cũng độc đáo nên nhớ lâu mà!
Rồi Ba Mẹ tôi mua nhà riêng ở ngoại ô, khu vực Cầu số 3 Phường Thống Nhất. Nhà cấp 4, vách bằng thùng phi nhựa đường, mái lợp tôn, được cái vườn tược rộng rãi đủ để chăn nuôi và trồng trọt, đáp ứng cho Ba tôi thể hiện khả năng tài ba của Ông, đảm bảo nuôi anh em chúng tôi học hành cho đến khi tốt nghiệp Đại học!
Ngoài việc phục vụ cho bữa cơm gia đình tương đối tươm tất, Ba tôi còn có sản phẩm mang ra chợ để bán lấy tiền. Cứ sáng sớm tinh mơ, khoảng 3h, Ba tôi dậy cắt rau củ quả (theo mùa) rồi chở bằng xe đạp có 2 giỏ thép lủng lẳng đằng sau gác-ba-ga ra chợ bán, khoảng 6h sáng đã thấy Ông trở về nhà với món tiền không nhiều nhưng quí giá thì vô cùng luôn! Hình ảnh Ba tôi còng lưng đạp xe chở rau ra chợ bán sáng sớm tinh mơ không bao giờ phai trong ký ức của tôi! Đoạn đường từ nhà ở Phường Thống Nhất ra chợ PleiKu phải đi qua nhiều dốc cao, có đoạn phải xuống đẩy xe leo dốc (vì thế mới có người gọi PleiKu là Thành phố xe đạp đẩy là vậy), nhưng Ba tôi không bao giờ nề hà, có lẽ lao động luôn tay luôn chân đã thành thói quen của Ông rồi! Sau này tôi có mua xe máy cho Ba tôi đi nhưng do tuổi cao nên Ông cũng không sử dụng được mấy. Ba tôi nghỉ hưu từ cuối năm 1981 và chủ yếu tập trung vào công việc trong nhà.
Cuối năm 1983 tôi tốt nghiệp Kỹ sư Đường ô tô và xung phong về công tác tại Sở GTVT Gia Lai – Kon Tum cho gần nhà. Tôi bắt đầu đi làm và hỗ trợ cho Ba Mẹ tôi những khi có thể, tuy không nhiều nhưng cũng chia sẻ với Ba tôi phần nào công việc nhà. Vì muốn sớm có con dâu nên Ba tôi giới thiệu cho tôi một vài cô gái là con của những người bạn của Ông, cũng đẹp người đẹp nết nhưng có lẽ không có duyên phận nên chẳng đi đến đâu. Thời gian này ở Tây nguyên bọn Fulro vẫn hoạt động vũ trang rất mạnh, nên công việc của tôi cũng có lúc gặp nguy hiểm vì tôi hay phải lên công trường giám sát thi công. Về chuyện này tôi đã viết thành Ký sự: Ngày 10/9 và những kỷ niệm không thể nào quên! Tôi gửi bài đi dự thi và đạt giải nhất của Báo Giao thông năm 2015 nhân dịp Kỷ niệm 70 năm ngành GTVT (Dưới tiêu đề: Làm đường dưới làn mưa đạn Fulro).
Vì tôi đã tốt nghiệp Đại học và về công tác tại Gia Lai – Kon Tum cho nên năm 1984 gia đình Chị Mai chuyển vào PleiKu sinh sống cùng Ba Mẹ tôi. Ba tôi đã làm giấy bảo lãnh để anh rể tôi là anh Quế được vào công tác tại Sở Nông Nghiệp Gia Lai – Kon Tum (sau này là Gia Lai).
Năm 1986 tôi lấy vợ và dọn ra ở riêng. Hôm đưa vợ chồng tôi ra nhà mới, Ba tôi dùng xe cải tiến chở đồ đạc cho chúng tôi và giao luôn chiếc xe đó cho tôi sử dụng, đồng thời Ông đưa cho tôi cây rựa Ông vẫn hay dùng và bảo: “Ba cho con cây rựa và chiếc xe này để làm vốn con nhé”! Tôi hiểu ý tứ của Ông: Hãy lao động và chăm lo cho gia đình như Ba tôi đã làm! Suốt đời tôi thấm thía ý nghĩa của Cây Rựa và Chiếc Xe Cải tiến này của Ba tôi! Thật sâu sắc và cao thượng!
Cũng năm đó Sở tăng cường tôi lên công tác tại Liên hiệp Lâm Nông Công nghiệp Đăk Glây, 2 năm sau tôi về lại Sở và đến cuối năm 1991 thì Gia Lai – Kon Tum chia tách thành 2 tỉnh: Tỉnh Gia Lai và Tỉnh Kon Tum. Tôi xung phong lên tỉnh mới Kon Tum. Thị xã Kon Tum cách PleiKu gần 50 km cho nên cứ sáng thứ 2 chúng tôi lên Kon Tum làm việc, chiều thứ 7 lại về PleiKu thăm nhà vì Ba Mẹ tôi và gia đình riêng của tôi vẫn ở PleiKu. Quãng đường này đi lại mất khoảng 1 tiếng đồng hồ, cho nên khoảng 5h30 sáng thứ 2 tôi và các bạn bè đồng nghiệp xuất phát lên Kon Tum. Mỗi lần đi qua ngã 3 Hoa Lư tôi lại gặp Ba tôi đi chợ bán rau trở về, nhìn thấy Ông đạp xe 2 thùng lưới thép lủng lẳng phía sau khiến tôi chạnh lòng khôn xiết! Tuổi đã cao nhưng vẫn chưa được nghỉ ngơi. Tôi luôn dừng lại chào Ông và chuyện trò với Ông dăm ba phút rồi đi cho kịp giờ làm buổi sáng. Tôi âm thầm chuẩn bị kế hoạch mua nhà trong trung tâm thị xã để chuyển Ba Mẹ tôi ra đó ở để Ba tôi được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng tuổi già. Tôi bàn với vợ chồng em Khánh góp vốn với tôi mua nhà trên ngã 4 Tăng Bạt Hổ – Trần Khánh Dư rồi đón Ba Mẹ tôi ra sống cùng với gia đình em. Vậy là năm 1993, sau bao nhiêu cố gắng, chúng tôi đã giúp đỡ cho Ba Mẹ tôi được sống trong ngôi nhà mặt phố, khang trang và tiện lợi hơn trước. Tuy nhiên, vừa để có công việc cho vui vừa có thêm thu nhập ngoài lương hưu, Ba Mẹ tôi vẫn mở một quầy hàng tạp hóa bán bánh kẹo, đồ dùng lặt vặt, đổ xăng lẻ…Cũng từ đây Ba Mẹ tôi đã đỡ vất vả hơn xưa và có điều kiện nghỉ ngơi vui vẻ với tuổi già.

Batoi3
Cuối năm 1997 tôi chuyển công tác ra Bộ GTVT để chuẩn bị cho việc xây dựng Dự án đường Hồ Chí Minh, lúc đó còn mang tên Xa Lộ Bắc Nam. Vừa ra được hơn tháng, tôi nhận được tin Ba tôi ốm nặng phải nhập bệnh viện Tỉnh, tôi xin phép anh Hà Đình Cẩn, Thủ trưởng trực tiếp của tôi về thăm Ba tôi. Về đến nơi tôi vào ngay Bệnh viện và ngủ lại để chăm sóc Ông. Nửa đêm tôi thấy Ba tôi vừa đi tiểu vừa rên vì đau do suy thận, tôi rất lo lắng. Qua Bác sỹ tôi được biết Ba tôi đã bị bệnh tiểu đường nặng, đã bắt đầu bị biến chứng. Tôi quyết định xin chuyển viện đưa Ba tôi ra Hà Nội chữa trị. Sau 2 tháng điều trị tích cực tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Ba tôi đã ổn định đường huyết, khỏe mạnh, tôi đưa Ba tôi về lại PleiKu. Sau đó Mẹ tôi bị đục thủy tinh thể, phải đưa ra Hà Nội mổ tại Bệnh viện Mắt Trung ương, về lại PleiKu một thời gian Bà lại đau ruột thừa phải mổ gấp, lần này tôi không về kịp, chỉ dặn chị Mai qua điện thoại: “Gặp các Bác sỹ nhờ người ta chú ý mổ cho Mẹ không để bị nhiễm trùng và dính ruột chị nhé”. Đáng tiếc là do điều kiện của Bệnh viện cấp tỉnh, Mẹ tôi vẫn bị nhiễm trùng và dính ruột! Tôi về thăm Mẹ và nung nấu ý định đưa Ba Mẹ tôi lúc này tuổi đã cao ra Hà Nội sinh sống để có điều kiện, có thời gian chăm sóc cũng như chữa bệnh cho Ông Bà khi ốm đau. Thuyết phục mãi mà Ba Mẹ tôi vẫn chưa xuôi.
Hiểu được mong muốn của tôi, một người bạn thân thiết của tôi đã trợ giúp tôi thuyết phục các Cụ. Đó là D., bạn ấy đã trực tiếp bay vào PleiKu gặp gỡ Ba Mẹ tôi. Bằng tấm lòng đôn hậu của mình, vừa chân thành vừa hào hiệp, D.đã làm cho Ba Mẹ tôi xuôi tai, đồng ý chuyển ra Hà Nội sinh sống. Tôi mừng vô hạn. Nhắc lại chuyện này để thấy tầm quan trọng của D. và để cám ơn bạn mình đã giúp chúng tôi thực hiện được ước nguyện có điều kiện chăm sóc, phụng dưỡng Ba Mẹ tôi được tốt hơn, chu đáo và thường xuyên hơn. Mẹ tôi nói với tôi: “Ba Mẹ muốn con thu xếp cho một cô con gái của Ông Bà cùng chuyển ra Hà Nội”. Sau khi bàn bạc thống nhất, vợ chồng cô Út Khánh đồng ý đi cùng Ba Mẹ tôi. Phải nói ngay rằng cô Khánh đã hi sinh rất nhiều cái riêng của mình để cùng với tôi toàn tâm toàn ý chăm sóc cho Ba Mẹ tôi. Cám ơn D., cám ơn em Khánh rất nhiều nhé! Ba tôi thì nói: “Đây là chuyến tập kết ra Bắc lần thứ 2. Lần đầu năm 1954 theo lệnh Cụ Hồ, lần này theo lệnh thằng con”! Năm 2002 Ba Mẹ tôi chuyển ra sinh sống tại Hà Nội cùng với tôi và em Khánh. Năm 2016 chị Mai cũng chuyển ra Hà Nội để được sinh sống gần Ba Mẹ và các con của chị. Vậy là sau một thời gian xa cách, bây giờ đã có 3 đứa con sát cánh bên Ba Mẹ tôi.
Tuổi già thường đi kèm với nhiều bệnh tật, tuy nhiên được quan tâm chăm sóc cẩn thận, nên Ba Mẹ tôi sống rất vui vẻ thoải mái. Mẹ tôi nói: “Nhờ ra đây mà tau với Ba mi sống thêm được hơn chục năm”! Năm 2010 Ba tôi bị tai biến và bị bại liệt nửa người. Kể từ đây Ông đã phải kiên cường chiến đấu với bệnh tật, với nỗi đau đớn thể xác suốt gần 8 năm ròng! Năm đó thầy Tử vi xem cho Ba tôi và phán: “83 tuổi là đã hết số rồi, bây giờ chỉ còn trông vào hồng phúc nhà mình nữa thôi, nếu gặp được thầy giỏi thuốc tốt thì sẽ sống thêm vài năm”! Ơn Trời Ba tôi đã sống được đến năm 90 tuổi Ông mới chịu ra đi!

Batoic
Nói Ba tôi kiên cường chiến đấu với bệnh tật vì những lần phải đưa Ông đi cấp cứu cận kề cái chết, nhưng Ông vẫn chiến thắng Thần chết! Tiểu đường biến chứng bị hoại tử một bên chân phải cắt bỏ (năm 2013) và ở lại điều trị tích cực 24h/24h trong Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, thường xuyên bị đau đớn về thể xác nhưng Ông vẫn chịu đựng được, mặc dù lúc này gần như Ông không còn tỉnh táo nữa. 4 cái tết trôi qua Ba tôi đều đón Xuân ngay trong Bệnh viện, cứ đón giao thừa xong tôi lại vào thăm Ông và mừng tuổi Ông! Khi Ba tôi tròn 65 năm tuổi Đảng (năm 2014) Đảng ủy phường Đại Kim, thay mặt Quận Ủy Hoàng Mai – Thủ Đô Hà Nội, vào tận giường bệnh của Ông để trao Huy hiệu 65 năm, Ông nằm đó và nghe đọc Quyết định tặng thưởng Huy hiệu cho mình, tuy không nói được nhưng có lẽ Ông đã cảm nhận được vinh dự của một người Đảng viên. Chúng tôi khâm phục Ông, tự hào về Ông, người Cha kính yêu luôn xứng xanh là Bộ đội Cụ Hồ! Ba tôi cũng đã được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến chống Pháp, Huy chương Kháng chiến chống Mỹ và nhiều Huy chương, Huy hiệu khác mà Đảng và Nhà nước ghi nhận những công lao đóng góp của Ba tôi cho Nhân dân, cho Đất nước!

BatoidBatoie
Chiều ngày 31/5/2017 nhằm ngày mùng 6 tháng 5 năm Đinh Dậu, vào lúc 17h20 Ba tôi, “Đại tá” Phạm Cao Hoàng (Phạm Xuân) người Đảng viên 68 tuổi Đảng, trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay yêu thương của chúng tôi. Ông đã lên đường theo Tổ tiên, để lại cho chúng tôi nỗi tiếc thương sâu thẳm đến không cùng!
Tang lễ của Ba tôi đã được tổ chức trọng thể vào sáng ngày 05/6/2017 tại Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Thủ đô Hà Nội. Bà con thân thuộc, bạn bè thân hữu gần xa đã về viếng Ba tôi rất đông nhưng trật tự và nghiêm trang, đặc biệt là sự có mặt của Bác Đồng Sỹ Nguyên (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Tư Lệnh Bộ đội Trường Sơn) lúc đó đã 95 tuổi, làm cho gia đình tôi và mọi người rất xúc động! Những người lính Cụ Hồ chia tay nhau trong lặng lẽ nhưng đã để lại trong lòng thế hệ hôm nay những giá trị đậm Nghĩa trọn Tình và Nhân văn vẹn toàn!
Ba tôi được an táng tại Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, Thị xã Sơn Tây, dưới chân núi Ba Vì và bên dòng Sông Tích, nơi có Đền thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Đền thờ Vua Ngô Quyền, có Chùa Mía, Chùa Viễn Sơn linh thiêng, yên bình và huyền thoại!
Ngày Ba tôi ra đi là những ngày hè nóng bỏng và nắng rát, nhiệt độ có lúc lên đến hơn 40 độ nhưng mọi người vẫn không quản ngại đến để tiễn đưa Ông về nơi an nghỉ cuối cùng, điều đó đã an ủi Mẹ tôi và chúng tôi rất nhiều! Xin được Cám ơn mọi người vì Tất cả!
Nơi cõi Vĩnh hằng Ba hãy yên nghỉ thanh thản và mãn nguyện Ba nhé.
Con Yêu Ba! MÃI MÃI!

Hà Nội Tháng 7 / 2018

No Comments

Post a Comment